Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoa Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoa Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

Đảo ngược sự thật Việt Nam

Tiếp tục chủ đề người Mỹ viết lại lịch sử, lần này là chiến tranh Việt Nam. Chúng ta biết rằng, chủ trương của ta đối với Mỹ là khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Chúng ta đã có những nhân nhượng nhất định đối với Mỹ, ví dụ như vấn đề chất độc da cam với gần 1 triệu nạn nhân và cả nước có đến gần 5 triệu người bị nhiễm chất độc màu da cam, thì nay vấn đề chất độc da cam, mà nạn nhân chính là con người đã bị biến thành khắc phục "ô nhiễm môi trường".

Trong lúc 2 bên đang tiếp tục tiến tới bình thường hóa quan hệ, hợp tác cùng phát triển thì ông TT Obama đã đăng đàn bẻ ngéo sự thật lịch sử chiến tranh Việt Nam.

Lầu Năm Góc vừa tiến hành chiến dịch quan hệ công chúng quốc gia nhiều năm để biện minh, để ca ngợi và tôn vinh cuộc chiến tranh xâm lược thảm khốc và thất bại của Washington đối với Việt Nam - cuộc xung đột quân sự gây tranh cãi nhất và không được lòng dân nhất của Mỹ.

Tổng thống Barack Obama vừa khai mạc một sự kiện quân phiệt, do Quốc hội phê duyệt với thế áp đảo cách đây 4 năm, trong bài phát biểu tại Bức tường Việt Nam trong Ngày tưởng niệm 28 tháng 5. Toàn bộ chiến dịch này sẽ bao gồm hàng chục ngàn các sự kiện trong 13 năm tiếp theo, bề ngoài là nhằm mục đích "cuối cùng vinh danh" binh lính Mỹ đã chiến đấu tại Việt Nam. Nhưng người cuối cùng đã được rút lui gần 40 năm trước đây.

Trong thực tế, dự án chưa từng có - có tiêu đề Tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam - sẽ lợi dụng sự ngông cuồng "ủng hộ cựu chiến binh" để thực hiện 2 mục tiêu lâu dài được thêm vào:

• Đầu tiên là để hợp pháp hóa và tăng cường thay mới tinh thần chiến binh Mỹ khi mà Lầu Năm Góc hiện lên từ 2 cuộc chiến tranh bất chính, xa lầy và tốn kém đến tàn hại và sinh ra phản tác dụng ở Iraq và Afghanistan, và chuẩn bị những cuộc phiêu lưu quân sự tiếp theo ở châu Á, Trung Đông và châu Phi. Chỉ trong vòng vài ngày sau bài phát biểu của Obama, ví dụ, Bộ trưởng Quốc phòng Leon E. Panetta đã công bố một sự tăng cường lớn cho lực lượng Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, một động thái rõ ràng là nhắm đến Trung Quốc. Đồng thời cuộc chiến tranh UAV của chính quyền Obama đang được đẩy nhanh khi danh sách giết chóc của Văn phòng Bầu dục mở rộng, và tổng thống tham gia vào phá hoại không gian mạng chống lại Iran.

• Thứ hai là làm phai nhạt ký ức phản đối đã có lịch sử của dân chúng đối với chiến tranh Việt Nam bằng cách đặt ra trước các điều khoản kiểm duyệt xung đột của Lầu Năm Góc trong các cuộc biểu tình cộng đồng, diễu hành và các khóa giáo dục diễn ra trên toàn quốc đến năm 2025. Những lá cờ vẫy, những duyên cớ siêu-yêu nước sẽ đề cao các cựu chiến binh, các thành viên quân sự đang làm nhiệm vụ, các quan chức chính phủ, các chính trị gia địa phương, giáo viên và các lãnh đạo doanh nghiệp sẽ được kết hợp lực lượng để ca ngợi những người đã chiến đấu tại Việt Nam và những người trên mặt trận quê nhà-những người ủng hộ chiến tranh. Sẽ không có nhiều - nếu có - sự chú ý tập trung vào đa số người Mỹ phản đối cuộc phiêu lưu của chủ nghĩa đế quốc, ngoại trừ một chú thích mô tả làm thế nào nền dân chủ khoan dung Mỹ chịu đựng bất đồng chính kiến.

Chủ đề chính trong bài diễn văn của Obama là quân đội Mỹ đã không được đón nhận đầy đủ vinh quang cho những nỗ lực của họ để ngăn chặn thống nhất Bắc-Nam Việt Nam một cách bạo lực. Ông ta đã không chỉ ra rằng sẽ không có chiến tranh nếu Mỹ cho phép bầu cử tự do diễn ra trong phạm vi cả nước Việt Nam vào năm 1956, theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 kết liễu chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương. Washington gần đây đã quyết rằng cuộc chiến tranh này "chính thức" bắt đầu vào năm 1962 (mặc dù sự tham gia của Mỹ là từ những năm 1950), và cho phép tưởng niệm bắt đầu như là "kỷ niệm 50 năm".

Tổng thống Obama nói với đám đông lớn cổ vũ của các cựu chiến binh và gia đình của họ tại bức tường Việt Nam chính xác những gì họ - và tất cả những ai vẫn còn phẫn nộ vì phong trào chống chiến tranh lớn của thời đại - muốn nghe:

"Một trong những chương đau đớn nhất trong lịch sử của chúng ta là Việt Nam - đặc biệt nhất, chúng ta đã đối xử với binh lính của chúng ta phục vụ ở đó như thế nào…

"Bạn thường đổ lỗi cho một cuộc chiến tranh bạn đã không bắt đầu, trong khi bạn cần phải được khen ngợi vì đã phục vụ đất nước của mình với lòng dũng cảm (Vỗ tay). Bạn đôi khi bị đổ lỗi vì những hành động xấu của một số ít, trong khi sự phục vụ đáng tôn kính của nhiều người cần phải được ca ngợi. Bạn trở về nhà và đôi khi bị phỉ báng, trong khi bạn cần phải được làm cho nổi danh. Đó là một sự xấu hổ quốc gia, sự nhục nhã mà lẽ ra đã không bao giờ xảy ra. Và đó là lý do tại sao ở đây hôm nay chúng ta quyết định rằng nó sẽ không xảy ra lần nữa (Vỗ tay)…”

"Bạn đã viết một trong những câu chuyện phi thường nhất của lòng dũng cảm và tính toàn vẹn trong biên niên sử của lịch sử quân sự (Vỗ tay) .... Mặc dù một số người Mỹ quay lưng với bạn - bạn đã không bao giờ quay lưng với đất nước Mỹ … Và cho phép nhớ đến tất cả các cựu chiến binh Việt Nam đã quay trở lại và phục vụ một lần nữa trong cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan. Các bạn đã không ngừng phục vụ tổ quốc (Vỗ tay).”

"Vì vậy, ở đây ngày hôm nay, phải nói rằng – các bạn đã chiếm lĩnh vị trí của mình trong thế hệ vĩ đại nhất. Vào lúc này, tôi sẽ yêu cầu tất cả các cựu chiến binh Việt Nam của chúng ta, tất cả các bạn những người có thể đứng lên, xin vui lòng đứng lên, tất cả những người đang đứng, hãy giơ tay của mình – khi chúng ta nói những từ giản dị là từ nay trở đi sẽ luôn luôn chào đón binh lính của chúng ta khi họ trở về nhà: (Vỗ tay) Chào mừng về nhà. Welcome home! Welcome home! Chào mừng về nhà. Cảm ơn các bạn. Chúng tôi đánh giá cao các bạn. Chào mừng về nhà! (Vỗ tay... .)”

"Xin Chúa ban phước cho các bạn. Xin Chúa ban phước cho gia đình các bạn. Xin Chúa ban phước cho những người đàn ông đàn bà trong bộ quân phục của chúng tôi. Và xin Chúa ban phước lành cho Hợp chủng quốc Mỹ!"

Hầu như không có những lời chỉ trích trên các phương tiện thông tin đại chúng về sự phóng đại đến mức khó ngửi của ông tổng thống về cái gọi là "ngược đãi" cựu chiến binh Việt Nam. Đúng là, không có các cuộc diễu hành chiến thắng, nhưng đó là bởi Quân đội Mỹ đã bị đánh bại bởi một đối thủ nhỏ bé hơn nhiều và vô cùng thiếu thốn vũ khí – lực lượng du kích của mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam (quân giải phóng - NLF) và các lực lượng chính qui từ miền Bắc Việt Nam.

Vào lúc mà nhiều các cựu chiến binh trở về nhà, người dân Mỹ đã quay ra chống chiến tranh và họ muốn nó kết thúc, cũng như một phần đáng kể binh lính đang tại ngũ, bao gồm rất nhiều người đồng cảm với phong trào hòa bình hay những người nổi loạn hoặc bị ruồng bỏ. Không nghi ngờ gì, một số cựu chiến binh đã bị coi thường - nhưng mức độ ít hơn rất nhiều so với Obama và các lực lượng ủng hộ chiến tranh giả thiết trong những năm qua.

Bất cứ khi nào Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược không được dân chúng ủng hộ, như ở Việt Nam, Afghanistan hay Iraq, Washington và các phương tiện truyền thông đại chúng luôn luôn nhấn mạnh rằng nghĩa vụ của công dân yêu nước là "ủng hộ quân đội" ngay cả khi họ phản đối chiến tranh. Nhưng rõ ràng, dạng thức ủng hộ mà chính phủ Mỹ tìm kiếm vẫn không tránh được hàm ý ủng hộ chiến tranh. Đây là lý do tại sao các nhóm hòa bình có khẩu hiệu "Ủng hộ binh lính – Mang con em về nhà NGAY!"

Theo Lầu Năm Góc, nơi phụ trách tổ chức Lễ Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam, mục đích chính là để "cảm ơn và vinh danh các cựu chiến binh của chiến tranh Việt Nam ... vì sự phục vụ và hy sinh của họ thay mặt cho nước Mỹ và để cảm ơn và vinh danh gia đình của các cựu chiến binh. Để nhấn mạnh sự phục vụ của các Lực lượng vũ trang trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam và những đóng góp của các Cơ quan Liên bang và các tổ chức chính phủ, phi chính phủ đã giúp đỡ, hay hỗ trợ cho các Lực lượng vũ trang. Để vinh danh sự đóng góp trên mặt trận quê nhà của người dân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam…"

Hàng ngàn người trong cộng đồng cựu chiến binh, các tổ chức phi chính phủ khác nhau trên khắp nước Mỹ được dự kiến là sẽ tham gia “Chương trình Đối tác kỷ niệm” , “để hỗ trợ chính quyền liên bang, các bang và chính quyền địa phương để giúp đỡ một quốc gia vĩ đại biết ơn và cảm ơn, tôn vinh các cựu chiến binh Việt Nam của chúng ta và gia đình của họ. “Đối tác kỷ niệm” được khuyến khích tham gia bằng cách lập kế hoạch và tổ chức các sự kiện và các hoạt động ghi nhận sự phục vụ của các cựu chiến binh Việt Nam gia đình, ghi nhận lòng dũng cảm, và sự hy sinh."

Ngoài ra chính phủ và các "đối tác" sẽ được phân phối các tài liệu giáo dục về chiến tranh, theo Lầu Năm Góc, nhưng không chắc rằng bên phía Việt Nam của câu chuyện này hay số đông phản đối chiến tranh ở Mỹ, dân sự và quân sự, sẽ nhận được sự chú ý tán thành. Nhiều thực tế, bao gồm cả nguồn gốc chiến tranh chắc chắn sẽ bị thay đổi để phù hợp với mục đích chính của lễ kỷ niệm là giảm thiểu thất bại của Washington và tối đa hóa chủ nghĩa anh hùng, lòng trung thành tận tụy của binh lính.

Về mặt chính thức, cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài 11 năm (1962-1973), nhưng Mỹ đã thực sự tham gia liên tục trong 21 năm (1954-1975). Mỹ đã cung cấp tài chính khôi phục sự kiểm soát của thực dân Pháp trên đất nước Việt Nam và toàn bộ Đông Dương sau thất bại của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản vào năm 1945. Đến năm 1954, Washington đã không chỉ cung cấp tiền bạc và các cố vấn, mà còn đã cử 352 người Mỹ đến Việt Nam trong một “Nhóm cố vấn hỗ trợ quân sự” để giúp đỡ Pháp chống lại các lực lượng giải phóng dưới sự lãnh đạo của Đảng CS Việt Nam. Giải phóng quân đã đánh bại quân đội Pháp ở trận chiến lịch sử Điện Biên Phủ cùng năm đó.

Hội nghị Geneva năm 1954, tạo điều kiện cho Pháp một cuộc rút quân trước mắt, được thiết lập để Việt Nam bị chia cắt tạm thời thành 2 nửa cho đến cuộc bầu cử tự do được tổ chức vào năm 1956 để xác định xem các lực lượng giải phóng, đứng đầu là Hồ Chí Minh, hay ông vua Bảo Đại, kẻ đã cộng tác với cả Pháp và lực lượng chiếm đóng Nhật Bản và cũng là một con rối của Mỹ, sẽ cai trị nhà nước thống nhất.

Người ta nghi ngờ tưởng niệm sẽ đi đến chỗ nhấn mạnh một thực tế rằng Mỹ, đứng đầu bởi Tổng thống Dwight D. Eisenhower, đã sử dụng sức mạnh của mình để ngăn chặn cuộc bầu cử tự do diễn ra trên toàn quốc khi đã trở nên rõ ràng rằng Hồ Chí Minh sẽ giành chiến thắng 80% phiếu bầu. Eisenhower thừa nhận điều này trong hồi ký của mình. Thay vào đó, Washington liên minh với lực lượng cánh hữu ở phía Nam tuyên bố "miền Nam Việt Nam" là một nhà nước riêng biệt lần đầu tiên trong lịch sử và đã thiết lập tài chính, huấn luyện và đã kiểm soát một lực lượng lớn quân đội phía nam để ngăn cản thống nhất đất nước. Mỹ đã chi phối chính quyền Sài Gòn trong suốt cuộc chiến tranh sau này.

Khi Paris rút đi và còn lại quân đội Pháp tháng 4 năm 1956, theo John Prados trong "Việt Nam: Lịch sử một cuộc chiến tranh không thể thắng, 1945-1975" (2009) (Vietnam: The History of an Unwinnable war), "sự ra đi của họ (Pháp) đã biến Mỹ thành ông anh lớn của miền Nam Việt Nam", tức là, chúa trùm và quân đội để bảo vệ chống lại các lực lượng giải phóng phổ biến ở nửa phía nam của đất nước đã nửa thế kỷ.

Tháng 6 năm 1962, 9700 Mỹ "cố vấn quân sự" cùng với 1 lượng lớn các điệp viên CIA đã được đào tạo và chiến đấu để hỗ trợ chế độ tham nhũng Sài Gòn do Mỹ đỡ đầu, lúc đó, bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dưới thời TT Mỹ Kennedy's, tuyên bố rằng "mọi biện pháp định lượng cho thấy chúng ta đang chiếm lĩnh cuộc chiến."

Đến năm 1968, khi số lượng của quân đội Mỹ đạt đến đỉnh điểm 535.040 người, Washington rõ ràng đã để thua đối thủ ngoan cường của họ. Đó cũng là khi Tổng thống Lyndon B. Johnson của phe Dân chủ quyết định không xúc tiến tái tranh cử nữa, để tránh phải mang cái bộ mặt nhục nhã của sự thất bại. Tổng thống Richard M. Nixon phe Cộng hòa đã kế nhiệm và tăng cường mạnh mẽ các vụ ném bom trong khi cũng kêu gọi đàm phán để chấm dứt chiến tranh. Đối mặt với một thất bại xảy ra trước mắt và một thảm họa chính trị, quân đội Mỹ rút lui vào năm 1973. CIA và một số nhân viên quân sự của Mỹ, các cố vấn chính trị vẫn còn ở lại với chính quyền cánh hữu miền Nam Việt Nam bị cắt giảm viện trợ cho đến tháng 4 năm 1975 khi toàn bộ đất nước được giải phóng.

Mỹ đã mất 58.151 quân trong chiến tranh. Từ 4 đến 5 triệu dân thường và binh lính Việt Nam đã thiệt mạng ở cả hai phía trong một thảm họa có thể đã hoàn toàn tránh được nếu Washington cho phép các cuộc bầu cử tự do diễn ra. Hơn 1 triệu dân thường ở nước láng giềng Lào và Campuchia cũng đã bị giết hại hoặc bị thương bởi bom đạn Mỹ.

Việt Nam, bắc và nam, đã bị nghiền thành bột bởi bom đạn Mỹ. Lầu Năm Góc đã ném 15.5 triệu tấn vũ khí trên mặt đất và trong không trung 3 nước Đông Dương, 12 triệu tấn ở riêng miền Nam Việt Nam trong một nỗ lực không thành đánh tan quân Mặt trận Giải phóng được hỗ trợ bởi quân đội miền Bắc. Để so sánh, Mỹ đã ném chỉ 6 triệu tấn vũ khí như thế trong suốt chiến tranh thế giới thứ II ở châu Âu và Viễn Đông. Tất cả như đã nói, cho đến khi chiến tranh kết thúc, có đến 26 triệu hố bom lỗ chỗ ở Đông Dương, nơi tràn ngập vũ khí và máy bay ném bom Mỹ.

Lầu Năm Góc cũng đã rải 18 triệu lít chất diệt cỏ để khai quang vài triệu hecta đất nông nghiệp và rừng. Hàng triệu người Việt Nam bị dị tật bẩm sinh, bệnh tật và tử vong từ những hóa chất độc hại. AP gần đây viết bài từ Hà Nội, thủ đô của Việt Nam, rằng "Hơn 100.000 người Việt Nam đã bị thiệt mạng hoặc bị thương bởi bom mìn trong đất phát nổ hay các chất nổ bị bỏ lại khác kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc cách đây gần 40 năm, để rà phá bom mìn trên cả nước sẽ mất thêm nhiều thập kỷ nữa."

Cũng cần đề cập - vì nó sẽ bị cấm trong kỷ niệm – rằng các lực lượng Mỹ, bao gồm cả CIA và Lầu Năm Góc, quân đội bị điều khiển miền Nam Việt Nam, đã tra tấn hàng ngàn người bị "nghi ngờ" ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng, tra tấn bằng dòng điện trên thiết bị di động là thường xuyên và phổ biến. Ước tính có khoảng 40000 "Vietcong” (bị nghi ngờ là thành viên hoặc ủng hộ quân giải phóng) đã bị sát hại trong thời kỳ dài thực hiện "Chiến dịch Phượng Hoàng - Operation Phoenix" chiến dịch ám sát này được tiến hành bởi CIA, lực lượng đặc nhiệm và các đơn vị giết người của quân đội Sài Gòn.

Có ba mặt trận chính trong cuộc chiến tranh Việt Nam, theo thứ tự: Đầu tiên, là chiến trường Đông Dương. Thứ hai, là phong trào phản chiến lớn trong phạm vi nước Mỹ và sự ủng hộ quốc tế đối với Việt Nam. Thứ ba, là các đàm phán hòa bình Paris. Hơn 60% người dân Mỹ phản đối cuộc chiến tranh năm cuối thập kỷ 60-đầu thập kỷ 70. Cuộc biểu tình hòa bình đầu tiên diễn ra vào năm 1962, cuộc biểu tình rất lớn đầu tiên diễn ra tại Washington vào năm 1965. Sau đó nổ ra hàng ngàn cuộc biểu tình chống chiến tranh lớn nhỏ trong thành phố, thị xã, và các trường đại học trên khắp nước Mỹ.

Tiết lộ, nhà văn này là một người phản đối chiến tranh và là người phản có lương tâm trong thời nay. Thông tin của ông về chiến tranh bắt nguồn từ khi ông lãnh trách nhiệm như một biên tập viên tin tức, biên tập viên quản lý và sau đó là tổng biên tập của tờ báo cánh tả độc lập lớn nhất tại Mỹ vào thời điểm đó, đó là tờ Guardian hàng tuần. Ấn bản này chuyên về chiến tranh, phong trào hòa bình, chống chiến tranh của cựu chiến binh (tổ chức Cựu chiến binh Việt Nam chống chiến tranh (VVAW) được thành lập vào năm 1967 và vẫn còn hoạt động ngày nay), về sức phản kháng phi thường của binh lính làm nhiệm vụ tại Việt Nam và tại các căn cứ Mỹ và trong các nhà tù ở Canada và châu Âu trong suốt thời gian của cuộc xung đột.

Hầu hết các cáo buộc về những lời lăng mạ nhằm vào binh lính hay cựu chiến binh từ phía đối lập với chiến tranh đã bị bịa đặt để làm mất uy tín của lực lượng chống chiến tranh – Lừa dối của Obama là đã chọn để lặp bịa đặt này lại như là một phần của chiến dịch Lầu Năm Góc để đảo ngược phán quyết tiêu cực của lịch sử về cuộc chiến Việt Nam. Các mục tiêu của phong trào hòa bình là những kẻ gây chiến ở Washington và các đồng minh của chúng ở nước ngoài, không phải là các thành viên của một đội quân bị bắt đi lính trên qui mô lớn. Có lẽ nổi tiếng nhất của những lời buộc tội giả dối là những báo cáo nhanh về các cá nhân chống chiến tranh đã "khạc nhổ" vào binh lính và cựu chiến binh. Những tin đồn thất thiệt hoang dại đến mức mà nhà xã hội học Jerry Lembcke đã phải viết một cuốn sách nhằm phơi bày chúng - "Hình ảnh khạc nhổ: Hoang đường, Ký ức, và Di sản Việt Nam," (The Spitting Image: Myth, Memory, and the Legacy of Vietnam) New York University Press, 1998.

Sẽ là rất đáng ngờ những kỷ niệm chiến tranh lại dám đả động một cách trung thực đến phong trào chống chiến tranh của binh lính đang làm nhiệm vụ hay đả động đến hàng trăm trường hợp các sĩ quan đã tự sát.

Sử gia Howard Zinn đã đưa cả những dòng này vào để phản ánh phản đối chiến tranh Việt Nam của binh lính Mỹ trong cuốn "Lịch sử dân tộc nước Mỹ" (People's History of the United States) của mình:

"Khả năng lực phán xét độc lập trong những người Mỹ bình thường có lẽ là thể hiện rõ nhất bởi sự phát triển nhanh chóng của tình cảm chống chiến tranh giữa các binh lính Mỹ - những người tình nguyện và người quân dịch đến chủ yếu từ các nhóm có thu nhập thấp hơn, trước đó trong lịch sử nước Mỹ, đã có những trường hợp binh lính bất mãn với chiến tranh: những cuộc nổi loạn bị cô lập trong chiến tranh Cách mạng, từ chối gia nhập quân đội nằm giữa các hành vi thù địch trong chiến tranh Mexico, đào ngũ và cắn rứt lương tâm trong Thế chiến I và Thế chiến II. Nhưng chiến tranh Việt Nam đã tạo ra sự phản chiến của binh lính và cựu chiến binh trên một quy mô, với lòng nhiệt thành, chưa bao giờ thấy trước đây."

Theo Trung tâm Hòa bình Washington: "Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, hàng ngũ quân sự đã tiến hành phản kháng đại chúng về các căn cứ và tàu chiến ở Đông Nam Á, Thái Bình Dương, Mỹ và châu Âu. Phản chiến là công cụ để chấm dứt chiến tranh bằng cách làm cho hàng ngũ chính trị không đáng tin cậy. Lịch sử này được ghi chép rõ trong tư liệu “Những người lính nổi loạn” của David Cortright và bộ phim gần đây “Thưa ngài! Không Thưa ngài!" ('The Soldier's Revolt' và Sir! No Sir!)

Sách “Những người lính nổi loạn” được bán rất rộng rãi, lời bình luận đáng chú ý có thể đọc ở đây: http://www.citizen-soldier.org/cortright.html

Một trong những báo cáo quan trọng về binh lính phản chiến được viết bởi đại tá Robert D. Heinl Jr. và xuất bản ở Tạp chí lực lượng vũ trang vào tháng 6 năm 1971. Ông bắt đầu: "Giá trị tinh thần, kỷ luật và chiến đấu của quân đội Mỹ, với một vài trường hợp ngoại lệ nổi bật, là thấp hơn và tồi tệ hơn bất cứ lúc nào trong thế kỷ này và có thể là trong lịch sử của Mỹ.”

"Bằng tất cả các dấu hiệu có thể hình dung được, quân đội của chúng ta bây giờ vẫn còn ở Việt Nam trong một trạng thái đang đi đến chỗ sụp đổ, với các đơn vị trốn tránh hay từ chối chiến đấu một cách đặc biệt, giết chết các sĩ quan chỉ huy và các sĩ quan phi nhiệm vụ của họ, nghiện ma túy, và mất tinh thần đến chỗ gần như không thể chịu nổi. Không đâu khác hơn là ở Việt Nam, tình cảnh lại gần như nghiêm trọng đến thế.

"Hứng chịu thất bại và bị vùi dập không thể chịu đựng nổi từ bên ngoài và bên trong bởi bất ổn xã hội, nghiện ma túy thành đại dịch, chiến tranh chủng tộc, xúi giục nổi loạn, đổ tội dân sự, ngoan cố trốn nghĩa vụ và ác ý, trộm cắp doanh trại và tội phạm thông thường, không được sự hỗ trợ trong khó khăn từ chính phủ liên bang, từ Quốc hội cũng như các nhánh hành pháp, ngờ vực, chán ghét, và thường chửi rủa dân chúng, quân dịch ngày nay là nơi thống khổ đối với lòng trung thành, đối với nghề nghiệp lặng câm của những ai đã chót mang và cố để giữ cho con tàu còn nổi."

Theo cuốn sách năm 2003 của Christian Appy, "Lòng yêu nước: Chiến tranh Việt Nam được nhớ lại từ tất cả các bên" (Patriots: The Vietnam War Remembered from All Sides), Tướng Creighton Abrams - chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam – đưa ra nhận xét này vào năm 1971 sau một cuộc điều tra: "Đây có phải là một đội quân chúa nguyền rủa hay một bệnh viện tâm thần? Sĩ quan sự hãi chỉ huy binh lính của mình vào chiến trận, và binh lính không nghe theo. Chúa Giê-su! Điều gì đã xảy ra?"

Một cựu đại tá quân đội khác ở Việt Nam, Andrew J. Bacevich Sr (bây giờ là giáo sư quan hệ quốc tế tại đại học Boston và đối thủ mạnh của chính sách đối ngoại/quân sự Mỹ) đã viết một cuốn sách về việc quân đội Mỹ đã nỗ lực như thế nào hàng chục năm sau thất bại để sửa chữa lại chiến lược chiến thuật chiến tranh của mình. ("Chủ nghĩa quân phiệt Mỹ mới: Người Mỹ bị cám dỗ bởi chiến tranh như thế nào" (The New American Militarism: How Americans Are Seduced by War), Oxford University Press, 2005). Một kết luận chính là đội quân nghĩa vụ có thể trở nên không đáng tin cậy nếu chiến tranh bị coi là bất công về bản chất và không được ưa chuộng ở quê nhà. Đây là lý do tại sao chế độ nghĩa vụ quân sự đã kết thúc và Lầu Năm Góc hiện nay dựa vào quân đội thường trực chuyên nghiệp được trả tiền hậu hĩnh hơn và được cung cấp bởi một số lượng lớn các nhà thầu và lính đánh thuê, những kẻ thực hiện nhiều nhiệm vụ được giao phó thay cho binh lính thông thường.

Phong trào cựu chiến binh của đội quân chuyên nghiệp từ các cuộc chiến tranh đương thời, chẳng hạn như phong trào cựu chiến binh Iraq chống chiến tranh và phong trào Diễu hành tiến bộ (March Forward), cũng như từ thời Việt Nam, vẫn đang trên đường phố phản đối chiến tranh đế quốc, và các cuộc thăm dò dư luận cho thấy rằng hơn 60% người Mỹ phản đối cuộc phiêu lưu Afghanistan.

Mặc dù Mỹ đã gây ra thiệt hại khổng lồ cho Việt Nam và dân chúng Mỹ trong những năm chiến tranh, đất nước Việt Nam đã nổi lên từ đống tro tàn và đang từng bước tiến tới trở thành một xã hội tương đối thịnh vượng dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản. Chính phủ Hà Nội đã không nhận được sự giúp đỡ từ Washington. Trong cuộc đàm phán hòa bình Paris năm 1973, Nixon đã hứa với Ttg Phạm Văn Đồng bằng văn bản rằng Mỹ sẽ trả cho Việt Nam 3,5 tỷ USD bồi thường. Lời hứa này hóa ra là vô giá trị.

Cái đập vào mắt những du khách đến thăm Việt Nam trong những năm gần đây, bao gồm cả người viết bài này, là đất nước này dường như đã đến với những gì họ gọi là chiến tranh chống Mỹ tốt hơn nhiều so với Mỹ đi đến với những khái niệm chiến tranh chống Việt Nam. Mặc dù phải chịu đựng những khó khăn gây ra cho Việt Nam, chính phủ và nhân dân nước này tỏ ra không giữ mãi những hận thù chống Mỹ.

Hà Nội cũng đã nhiều lần rộng mở, trải thảm chào đón cựu thù, kêu gọi người Mỹ và người dân miền nam Việt Nam hiện đang sống ở nước ngoài "khép lại quá khứ và nhìn về tương lai". Bất cứ nơi nào công dân Mỹ đến - bao gồm cả cựu binh du lịch ở Việt Nam, họ đều được đón chào với sự tôn trọng giống như du khách từ các quốc gia khác.

Tại Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn gợi lên những ngôn từ hiếu chiến ở một số vùng. Một số người Mỹ vẫn cho rằng Mỹ "có thể đã giành được chiến thắng nếu không có một tay bị trói sau lưng" (tức là, sử dụng vũ khí hạt nhân), và một số tiếp tục căm ghét những người biểu tình chống chiến tranh của những năm qua, giống như khi họ biểu tình chống lại cuộc chiến tranh ngày hôm nay. Và một số kẻ khác trong Quốc hội, trong Nhà Trắng và Lầu Năm Góc - vẫn tiếp tục gây chiến bằng cách nỗ lực tổ chức tuyên truyền khổng lồ để bóp méo lịch sử xâm lược và tàn bạo không thể nói hết được của Washington tại Việt Nam.

Thay cho lời kết: Nếu như người Mỹ có những sách lịch sử trung thực và tử tế, thì người ta sẽ đọc được ở đâu đó rằng: Trong lịch sử xâm lăng và cướp bóc 300 năm qua của chủ nghĩa thực dân đế quốc. Nước Mỹ là nhân vật chính trong những chương tàn bạo nhất, dã man nhất và đẫm máu nhất.

Thay vì thế, tay vẫn ném bom giết người - mồm vẫn ra rả tự do-dân chủ-nhân quyền. Thật là kỳ lạ như quái vật!

Hết!

Phần lớn tư liệu trong bài là của globalresearch, có thể tham khảo tại đây:
http://www.globalresearch.ca/index.php?context=va&aid=31296

Kết quả khảo sát buồn: nước Mỹ đã trở thành cực kỳ ngu xuẩn!


Mười năm trước đây có một bộ phim Hollywood lớn mang tên "Idiocracy" phát hành. Đó là phép ẩn dụ tuyệt vời cho những gì xảy ra với Mỹ trong suốt thập kỷ tiếp theo. Trong phim, một "người Mỹ trung bình" tỉnh giấc 500 năm sau trong tương lai và khám phá ra rằng ông ta là người thông minh nhất vượt xa cái xã hội đã "ngu đi" mà ông ta thấy mình trong đó.

Đáng buồn thay, tôi thực sự tin rằng nếu 1 người có trí tuệ trung bình những năm 1950 và 1960 được đưa đến năm 2016, họ có khả năng được coi là đại trí tuệ so với phần còn lại của chúng tôi. Chúng tôi có một quốc gia nơi bọn tội phạm đang được trả  tiền $1.000 mỗi tháng không để bắn người, và người lao động công được hưởng lương cao nhất trong hơn một nửa đất nước là một huấn luyện viên bóng đá. Hầu như không ai có thì giờ để đọc sách nữa, nhưng người Mỹ trung bình dành 302 phút một ngày xem truyền hình. 75% thanh niên của chúng tôi không thể tìm thấy Israel trên bản đồ Trung Đông, nhưng họ chắc chắn biết làm thế nào để tìm trang web đen trên Internet. 

Cái gì đã xảy ra đối với chúng tôi trên thế giới? Làm thế nào mà chúng tôi đã quá ngu ngốc? Theo một báo cáo mới phát hành gần đây, gần 10% sinh viên tốt nghiệp đại học của chúng tôi tin rằng Judge Judy là Tòa án tối cao... 

Hội đồng quản trị cựu sinh viên ACTA công bố báo cáo từng kỳ về những gì sinh viên biết:
Gần 10% sinh viên tốt nghiệp đại học được khảo sát nghĩ Judith Sheindlin, của show truyền hình "Thẩm phán Judy," là thành viên Tòa án Tối cao Mỹ. Ít hơn 20% biết kết quả của Tuyên Ngôn giải phóng nô lệ. Hơn 1/4 không biết Franklin D. Roosevelt là tổng thống trong Thế chiến II; 1/3 không biết ông là người khởi đầu New Deal.

Có thể các con số như thế là đáng cười cho đến khi bạn nhận ra cuộc điều tra này tiếp theo cuộc điều tra khác đã đưa ra kết quả tương tự.

Chỉ cần xem xét những gì Newsweek phát hiện một vài năm trước đây ...

Khi gần đây Newsweek hỏi 1.000 công dân Mỹ đi kiểm tra nhận quốc tịch chính thức của Mỹ, 29% không thể nhớ được tên 1 phó tổng thống Mỹ. 73% không thể nói một cách chính xác lý do tại sao chúng tôi chiến đấu chiến tranh lạnh. 44% không thể xác định Tuyên ngôn nhân quyền. Và 6% thậm chí không thể khoanh tròn ngày Độc lập trong lịch.

Thậm chí tệ hơn những kết quả cực kỳ thất vọng của một nghiên cứu tiến hành vài năm trước đây bởi Common Core ...

* Chỉ có 43% tất cả học sinh trung học Mỹ biết rằng cuộc nội chiến đã diễn ra trong khoảng thời gian 1850 và 1900.
* Hơn 1/4 tất cả học sinh trung học Mỹ cho rằng Christopher Columbus thực hiện chuyến đi nổi tiếng của mình qua Đại Tây Dương sau năm 1750.
* Khoảng 1/3 tất cả học sinh trung học Mỹ không biết rằng Tuyên ngôn Nhân quyền bảo đảm tự do ngôn luận và tự do tôn giáo.
* Chỉ có 60% tất cả sinh viên Mỹ biết rằng Thế chiến I đã diễn ra trong thời gian giữa 1900 và 1950. 

Tất nhiên kết quả cuộc khảo sát có thể bị mất cân bằng, và nhiều bản lề về cách các câu hỏi được hỏi.

Tuy nhiên, ngay cả các nghiên cứu được tiến hành một cách khoa học cũng khẳng định nước Mỹ đã trở thành ngu ngốc. Trong thực tế, báo cáo của Educational Testing Service (ETS) thấy rằng người Mỹ đang tụt lại phía sau rất xa phần còn lại của thế giới công nghiệp. Sau đây là từ CBS News ... 

Người Mỹ sinh ra sau 1980 đang tụt hậu so với đồng nghiệp của họ ở các nước khác nhau, từ Úc đến Estonia, theo báo cáo mới từ các nhà nghiên cứu tại ETS. Nghiên cứu xem xét điểm số văn và toán từ một thử nghiệm được gọi là Chương trình nhằm đánh giá quốc tế về Năng lực dành cho người lớn, được thử nghiệm khả năng của người dân ở 22 quốc gia.

Kết quả là nghiêm túc, tác động nghiêm trọng đối với nước Mỹ. Nó gợi ý rằng sinh viên Mỹ có thể đã tụt hậu không chỉ trong năm học đầu tiên của họ, mà cả ở cấp đại học. Mặc dù nhiều người Mỹ trong độ tuổi từ 20-34 đang có mức độ giáo dục cao hơn, họ vẫn đang tụt lại phía sau đội quân của họ ở các nước khác. Tại Nhật Bản, Phần Lan và Hà Lan, thanh niên chỉ với cấp trung học có điểm số tương đương với người Mỹ thế hệ Y có 4 năm đại học, báo cáo cho biết. 

Trong số 22 quốc gia là một phần của nghiên cứu này, ETS phát hiện thấy người Mỹ đã đứng chết sau cùng về khả năng công nghệ, chết sau cùng trong toán học và chỉ có 2 nước hiện tồi tệ hơn Mỹ khi nói đến khả năng đọc thông thạo... 

Một nửa người Mỹ có điểm thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu về trình độ học vấn. Chỉ có 2 nước có điểm tồi hơn theo cách tính này: Italy (60%) và Tây Ban Nha (59%). Các kết quả của Mỹ thậm chí còn tồi tệ hơn trong môn toán, với gần 2/3 số khảo sát không đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu về hiểu biết và làm việc với các con số. Điều đó đặt người Mỹ thế hệ Y đứng chết cuối cùng trong môn toán trong số 22 quốc gia phát triển đã nghiên cứu.
 
Vậy tại sao điều này xảy ra? Tại sao chúng tôi lại trở thành quốc gia vô cùng ngu ngốc như vậy?

Vâng, ít nhất một phần lỗi lầm phải là hệ thống của chúng tôi về giáo dục. Sau đây là một đoạn trích từ bài viết của phóng viên Mark Morford. Trong bài viết này, ông chia sẻ 1 trong những người bạn của mình mà đã làm giáo viên trường trung học ở Oakland - California một thời gian rất dài như thế nào, rồi đã cân nhắc ra đi khỏi đất nước khi ông nghỉ hưu do không ngừng "ngu hóa của bộ não Mỹ " ...

Nó đã quá tồi tệ để, như người bạn của tôi đã gần nghỉ hưu, nói rằng ông đang rất nghiêm túc cân nhắc chuyển ra nước ngoài để thoát khỏi những gì ông nhìn thấy mà sẽ là sự sụp đổ chắc chắn của hoạt động xã hội Mỹ trong vài năm tới do đã bị phá hủy hoàn toàn không thể chối cãi, điều gây sốc - và gần như vô vọng – là sự ngu hóa của bộ não Mỹ.

Bây giờ, bạn có thể nghĩ rằng ông ấy chỉ đơn thuần là một người hà tiện, một giáo viên già mệt mỏi đã ngừng dạy từ lâu. Không đúng. Dạy học là cuộc đời của ông ấy. ÔNg ấy yêu sinh viên của mình, quí trọng giáo dục và theo dấu tâm trí giới trẻ thức tỉnh. Vấn đề là, ông đã thấy rất ít điều đó.

Và tất nhiên mọi thứ chẳng tốt hơn lên khi nói đến sinh viên đại học của chúng tôi. Trong một bài viết trước, tôi đã chia sẻ số liệu thống kê từ USA Today về tình trạng xuống cấp nhanh chóng của giáo dục đại học Mỹ…

- "Sau 2 năm đại học, 45% sinh viên thấy không có lợi ích gì đáng kể trong việc học tập; sau 4 năm, 36% thấy không mấy thay đổi. "
- "Sinh viên dành ít hơn 50% thời gian để học so với vài thập kỷ trước".
- "35% sinh viên bỏ ra 5 giờ hoặc ít hơn mỗi tuần để tự học".
- "50% nói rằng họ không bao giờ đến lớp trong 1 học kỳ điển hình, nơi họ viết hơn 20 trang bài học"
- "32% không bao giờ đến lớp trong 1 học kỳ điển hình, nơi họ đọc hơn 40 trang mỗi tuần."

Tôi đã trải qua 8 năm học tại một số trường đại học công tốt nhất cả nước, và tôi có thể cho bạn biết từ kinh nghiệm cá nhân rằng, ngay cả các khóa học của đại học khó nhất của chúng tôi cũng đã bị ngu đi 1 cách thảm hại.

Còn tại các trường ĐH công "thấp hơn tốt nhất" của chúng tôi, trình độ giáo dục có thể là một cái gì đó của trò đùa độc ác. Trong bài viết trước, tôi đã chia sẻ một số ví dụ về các khóa học thực tế được giảng dạy tại các trường ĐH Mỹ những năm gần đây


Bạn có thể tưởng tượng nhận được tín chỉ đại học thực sự cho một khóa học mang tên "Thế nào nếu Harry Potter là có thực?"
Đây là lý do tại sao nhiều sinh viên tốt nghiệp ĐH của chúng tôi chỉ có trình độ đủ để đặt hai câu lại cùng với nhau. Họ không bị thử thách, và chất lượng giáo dục mà hầu hết họ nhận được là vô cùng nghèo nàn.

Nhưng ngay cả khi không bị thử thách, họ phải mất nhiều thời gian hơn để tốt nghiệp ĐH hơn bao giờ hết. Thống kê liên bang cho thấy chỉ có 36% sinh viên toàn phần tốt nghiệp sau 4 năm, và chỉ có 77% sinh viên toàn phần giành được bằng cử nhân sau 6 năm.

Tất nhiên hệ thống giáo dục của chúng tôi không phải là có lỗi hoàn toàn. Sự thật là giới trẻ Mỹ trẻ dành quá nhiều thời gian cho phương tiện truyền thông hơn là họ đánh vật với những cuốn sách, và những gì trải qua với "giải trí" ngày nay đang nhanh chóng thay đổi não trạng của họ rất nhiều.
  
Theo một báo cáo được đưa ra bởi Nielsen, đây là bao nhiêu thời gian 1 người Mỹ trung bình dành cho truyền thông trên các thiết bị khác nhau mỗi ngày... 

Xem truyền hình trực tiếp: 4 giờ, 32 phút
Xem truyền hình ghi lại: 30 phút
Nghe các đài phát thanh: 2 giờ, 44 phút
Sử dụng smartphone: 1 giờ 33 phút
Sử dụng Internet trên máy tính: 1 giờ, 6 phút

Khi bạn cộng tất cả vào, một người Mỹ trung bình dành hơn 10 giờ mỗi ngày cắm mặt vào một số hình thức truyền thông.

Và nếu bạn cho phép bất cứ ai nhồi "chương trình" vào tâm trí bạn 10 giờ mỗi ngày, nó sẽ có một tác động đáng kể.

Cuối cùng, tôi thực sự tin rằng tất cả chúng tôi đánh giá quá thấp ảnh hưởng của truyền thông tác động lên tất cả chúng tôi. Chúng tôi sẵn sàng cắm mặt vào "ma trận" truyền thông bất tận, nhưng rồi bằng cách nào để chúng tôi mong đợi "tự suy nghĩ".

Có rất ít trong chúng tôi có thể nói rằng chúng tôi đã không bị phơi nhiễm hàng ngàn hàng ngàn giờ tin tức. Tất cả những rác thải đó có thể làm cho rất, rất khó khăn để suy nghĩ rõ ràng. Đó không phải là vì thiếu đầu vào mà chúng tôi đã trở thành quá ngu ngốc như cái xã hội này. Vấn đề lớn là những gì chúng tôi đưa vào tâm trí chúng tôi.

Nếu chúng tôi tiếp tục đưa rác vào, chúng tôi sẽ tiếp tục nhận được rác ra, đó là sự lạnh lùng, là thực tế khó nhọc của vấn đề.




Harvard ư? Những con “Zombie” xuất chúng!


Ai chẳng muốn vào Harvard! Những ngày gần đây, người dân Việt Nam lại được dịp hân hoan khi 1 học sinh trường Ams được Harvard cho học bổng tới 7 tỷ đồng. 


Trái với niềm hoan hỉ tột độ khi một nước thế giới thứ ba có người được lọt vào tháp ngà Harvard, William Deresiewicz, từng là giáo sư Anh Văn 10 năm trường đại học danh tiếng Yale, một người không xa lạ gì với các trường đại học tinh hoa và “những con cừu xuất sắc” (Excellent Sheep), đã mang lại cho chúng ta một cái nhìn cận cảnh về “cuộc chạy đua điên rồ” đến các trường Top và những suy tư của ông về “một nền giáo dục đúng nghĩa” trong bài viết được Read Station chuyển ngữ này.

Những pháo đài học thuật này tuyển sinh một cách bí hiểm ra sao? Số phận của những “hồ sơ xuất chúng” nhất được định đoạt thế nào? (Bật mí, nếu bạn chỉ có 5 hoạt động ngoại khóa trên CV hoặc điểm tổng kết 8.5/10 thì khả năng bị loại của bạn là rất lớn.)

Và trái ngược với những gì chúng ta vẫn nghĩ về những sinh viên giỏi giang và hãnh tiến này, tác giả mô tả cuộc đời của họ cũng nhuốm màu bi thảm như mọi học sinh bình thường khác: học xong cũng chả biết “tiếng gọi” đời mình là đâu.

Cuốn sách đi kèm với bài viết này, Excellent Sheep: The Miseducation of the American Elite and the Way to a Meaningful Life, không phải là một cuốn sách tầm thường. Từ khi ra mắt năm 2015, cuốn sách đã làm mưa, làm gió từ các văn phòng hiệu trưởng đại học, những nhà làm giáo dục trăn trở với sự chuyển mình của đại học trong thế kỉ 21, đến chính các học sinh sinh viên - những người trực tiếp trải qua cuộc chạy đua.

Hi vọng, với việc dịch bài viết này, dự án sẽ giúp bạn và bố mẹ của bạn có một các nhìn phản biện, bớt ảo tưởng hơn về các trường đại học tinh hoa ở Mỹ - nơi các học sinh và phụ huynh giàu có Việt Nam hiện nay đang tìm mọi giá để lao đầu vào.


Vẫn nhớ mùa xuân năm 2008, tôi dành thời gian phần lớn trong ngày cho một công việc tại uỷ ban tuyển sinh Đại học Yale. Chúng tôi lúc đó, gồm ba cán bộ tuyển sinh, một thành viên ban chủ nghiệm, và tôi - đại diện khoa, đang xét duyệt hồ sơ từ khu vực phía đông bang Pennsylvania. Các thí sinh được chấm điểm từ 1 đến 4 dựa vào một chuỗi các số liệu và mật mã - điểm bài thi chuẩn hoá SAT, điểm trung bình năm (GPA), xếp hạng lớp học (class rank), một điểm số đánh giá thư giới thiệu (letter of recommendations), vài mật mã chú thích cho những trường hợp đặc biệt như con ông cháu cha (legacies), hay một học sinh có xuất thân/hoàn cảnh khác biệt (diversity cases).

Nhóm được điểm 1 là chắc chắn được nhận, điểm 3 và 4 thì chỉ có thể nhận trong điều kiện đặc biệt - chẳng hạn một vận động viên cấp quốc gia, hoặc một “DevA” (thí sinh thuộc loại ưu tiên nhất trong hạng mục “phát triển trường” (development case) - có nghĩa là con của một nhà tài trợ rất giàu có). Nhiệm vụ của chúng tôi là ra quyết định chọn ai giữa những học sinh được điểm 2. Những chiếc tô lớn đựng đồ ăn vặt được đặt quanh phòng để duy trì năng lượng cho ban tuyển sinh cả ngày.

Trợ lý của chúng tôi, một chàng trai trẻ khoảng chừng 30 tuổi, đọc và giới thiệu về từng thí sinh bằng những thuật ngữ của phòng tuyển sinh mà cố gắng lắm tôi mới theo kịp được. “Bộ khung ngon” (Good rig): bảng điểm đẹp hứa hẹn một học sinh thành công trên con đường học vấn. “Ed level 1”: cha mẹ có trình độ giáo dục không vượt quá phổ thông - "hoàn cảnh khó khăn đây". “MUSD”: một nhạc công triển vọng. Những cô cậu nào mà có từ năm đến sáu thành tích hoạt động ngoại khoá - những “kẻ khoe khoang” (the "brag") - thường gặp rắc rối rồi, vì năm, sáu với chúng tôi vẫn là chưa đủ. Chúng tôi lắng nghe, đặt câu hỏi, bình luận vài thứ, rồi biểu quyết chọn hay không chọn.

Với rất rất nhiều thí sinh tài năng để chọn, chúng tôi thường tìm những đứa trẻ có thứ gì đó đặc biệt hơn, “PQs” (personal qualities) - phẩm chất cá nhân - thường được thể hiện qua những bài luận và thư giới thiệu. Những thí sinh mà đơn giản chỉ có lý lịch và các con số thường bị từ chối: “không có gì đặc biệt”, “không phải là một người làm việc nhóm”, “trông có vẻ nửa vời”. Một thanh niên khác có số lượng thành tích hoạt động ngoại khoá nhiều đến phát rồ và nộp tới 9 lá thư giới thiệu thường sẽ bị đánh giá là “quá dữ dội”. Mặt khác, lý lịch và các con số rõ ràng là thứ không thể thiếu. Tôi được kể rằng những thí sinh thành công thường hoặc “giỏi toàn diện” (well-rounded) hoặc “siêu dị” (pointy) - nổi bật và đáng chú ý chỉ ở một lĩnh vực - nhưng nếu giỏi theo kiểu dị, chúng phải thực sự rất dị: một nhà soạn nhạc có đĩa ghi âm gây ấn tượng cho cả hội đồng nghệ thuật, một nhà khoa học chiến thắng trong một cuộc thi cấp quốc gia.

“Siêu nhân”, James Atlas gọi tên chúng - là hình mẫu những học sinh cực kỳ thành đạt và tài năng của các đại học tinh hoa hiện nay. Hai bằng đại học, một môn thể thao, một nhạc cụ, vài tiếng nước ngoài, hoạt động từ thiện ở ngóc ngách xa xôi nào đó trên thế giới, một vài sở thích cá nhân ném vào cho cân bằng và toàn diện: Chúng đã tinh thông tất cả mọi thứ, cùng với một sự tự tin đến bình tĩnh khiến bạn bè cùng trang lứa và cả những người trưởng thành đều phải kính sợ. Một giáo viên ở một trường đại học hàng đầu từng yêu cầu các sinh viên của mình học thuộc lòng 30 câu thơ của Alexander Pope - một nhà thơ thế kỷ thứ 18. Gần như đứa nào cũng nhớ chính xác đến từng dòng. Đó quả là một điều kỳ diệu, cô tâm sự, cứ như là quan sát bầy ngựa nối đuối nhau chạy vòng tròn vậy.

Nhứng đứa trẻ đáng ghen tị này quả nhiên là những kẻ thắng cuộc trong cuộc đua mà chúng ta đã vẽ ra cho chúng từ thời thơ ấu. Song, qua những gì tôi đã quan sát ở các học sinh của mình, lắng nghe hàng trăm người trẻ viết thư và trò chuyện cùng tôi những năm gần đây, sự thực hoàn toàn khác xa. Hệ thống giáo dục tinh hoa của chúng ta đã thiết kế ra những người trẻ thông minh, tài năng, và đầy động lực, đúng, nhưng đồng thời cũng đầy lo âu, sợ hãi, lạc lõng, vô định, với sự tò mò tri thức ít ỏi, nhận thức về mục đích và đam mê bị kiềm chế: mắc kẹt trong cái bong bóng của đặc quyền, ngoan ngoãn đi theo một con đường định sẵn, xuất sắc trong những gì chúng làm nhưng chẳng hiểu tại sao lại làm nó.

Khi tôi nói về nền giáo dục tinh hoa, tôi đang nói đến những trường đại học danh giá như Harvard, Stanford, Williams hay các trường có tỉ lệ chọi gay gắt khác, nhưng tôi cũng đang nói đến tất cả những thứ đang góp phần tạo nên nó - các trường trung học tư và công; thị trường không ngừng lớn của các gia sư và dịch vụ tư vấn giáo dục, các khoá học chuẩn bị cho kỳ thi chuẩn hoá; thậm chí là ngay chính bản thân hệ thống tuyển sinh - thứ dậm chân hăm doạ như một con rồng dữ tợn trước ngưỡng cửa trưởng thành; những trường đại học cao học và cơ hội việc làm tại các công ty tên tuổi sau khi tốt nghiệp; cha mẹ và cộng đồng, chủ yếu là ở tầng lớp thượng-trung lưu - những người đã và đang tìm mọi cách để đẩy con mình vào họng của cỗ máy này. Nói ngắn gọn là, toàn bộ hệ thống giáo dục tinh hoa của chúng ta.

Tôi, không ai khác, chính là người trong cuộc. Giống như rất nhiều đứa trẻ ngày nay, tôi bước vào con đường đại học lờ đờ như một kẻ mộng du. Chọn nơi nào danh giá nhất nhận bạn vào; sau đó những gì đợi chờ chúng ta sẽ là địa vị, của cải, và thành công. Còn những câu hỏi như thế nào mới thức sự là giáo dục và tại sao bạn cần nó - tất cả đều không được quan tâm hay nhắc đến. Chỉ tận sau 24 năm dành thời gian ở Ivy League - học đại học và lấy bằng tiến sĩ ở Columbia, mười năm giảng dạy tại Yale - tôi mới bắt đầu đặt câu hỏi về việc hệ thống đã làm gì những đứa trẻ và làm sao để chúng thoát khỏi nó, nó đã ảnh hưởng thế nào đến xã hội của chúng ta và làm sao chúng ta có thể triệt phá nó.

Một người phụ nữ trẻ từ một trường đại học khác viết cho tôi thế này về người bạn trai của cô học ở Yale:
“Trước khi vào đại học, anh ấy dành phần lớn thời gian đọc sách và sáng tác truyện ngắn. Ba năm sau, anh ấy trở nên bất an đến đau khổ, lo lắng về những điều mà bạn bè cùng trường tôi chẳng bao giờ để ý đến, như là nỗi hổ thẹn khi phải ăn trưa một mình và việc không rõ anh ấy đã “networking” đủ chưa. Không ai ngoài tôi biết rằng anh ấy giả vờ mình biết nhiều bằng cách lướt qua chương đầu và chương cuối của tất cả những cuốn sách anh nghe đến tên, cố gắng ăn sống nuốt trôi những bài giới thiệu sách thay vì đọc sách thật. Anh ấy làm thế không phải vì không ham mê tri thức, mà là vì xã hội nơi anh sống đề cao khả năng có thể nói về những quyển sách hơn là việc thực sự đọc chúng."

Tôi đã dạy rất nhiều người trẻ tuyệt vời trong suốt thời gian ở Ivy League - những đứa trẻ thông minh, chín chắn, sáng tạo mà hẳn là một vinh hạnh để nói chuyện và học hỏi. Nhưng phần lớn dường như hài lòng với một gam màu trong những dòng kẻ mà hệ thống giáo dục đã vẽ ra cho chúng. Rất hiếm ai nhiệt huyết với các ý tưởng. Rất ít ai coi đại học như là một phần của kế hoạch dài lâu cả đời để khám phá tri thức và phát triển bản thân. Ai ai cũng ăn mặc như luôn sẵn sàng để được phỏng vấn bất cứ lúc nào.

Nếu nhìn sâu dưới bề mặt của sự hoàn hảo tự tin không tì vết này, những gì bạn thấy sẽ là một mức độ lớn đến độc hại của những nỗi sợ, những phiền muộn, của sự trống rỗng, vô định, lạc lõng và tách biệt. Một khảo sát quy mô lớn trên các sinh viên năm nhất gần đây tìm ra rằng các phản hồi về sức khoẻ tinh thần của sinh viên đã tụt xuống mức thấp nhất trong lịch sử 25 năm khảo sát.

Các yêu cầu tuyển sinh giờ đây ngặt nghèo đến nỗi những đứa trẻ được nhận vào các trường đại học tinh hoa chưa bao giờ trải nghiệm điều gì ngoài thành công. Viễn cảnh về việc không thành công làm chúng sợ hãi và mất phương hướng. Cái giá của thất bại, dù chỉ là tạm thời, không chỉ là một vấn đề thực tiễn, mà còn là vấn đề sống còn. Thành tích trở thành một lời chối bỏ tàn bạo với mạo hiểm. Bạn không được phép mắc lỗi, nên bạn sẽ tránh mọi khả năng có thể gây ra lỗi. Một lần, một sinh viên ở Pomona nói với tôi rằng cô ước gì có một cơ hội để suy nghĩ về những gì mình đang học, chỉ tiếc là cô không có thời gian.

Tôi hỏi cô đã bao giờ nghĩ về chuyện không đạt điểm A trên lớp chưa. Và cô nhìn tôi như thể tôi vừa đưa ra một gợi ý vô duyên và bất lịch sự.

Có một vài ngoại lệ: những đứa trẻ bằng mọi cách, dù phải chống lại dòng chảy xô đẩy của xã hội, cố gằng đạt được một giáo dục đúng nghĩa. Nhưng những gì trải qua thường khiến chúng cảm thấy mình không khác gì lũ lập dị. Một sinh viên từng kể với tôi rằng một người bạn của cô đã bỏ Yale vì cảm thấy như ngôi trường đang “bóp chết một phần trong bạn mà bạn vẫn gọi nó là tâm hồn”.
--------------------

“Hoàn vốn”: đó là cách nói mà bạn vẫn thường nghe thấy ngày nay khi mọi người nói về đại học. Thứ mà có vẻ như chẳng ai quan tâm đó là “hoàn” ở đây nên là làm gì? Chúng ta nên làm gì để 4 năm đại học không vô nghĩa? Có phải nó chỉ đơn giản là kiếm được nhiều tiền hơn? Có phải mục đích duy nhất của giáo dục là giúp bạn kiếm một công việc? Nói một cách ngắn gọn, đại học có ý nghĩa gì?
 
Ý nghĩa đầu tiên của đại học đó là dạy bạn cách nghĩ. Nó không đơn giản chỉ là phát triển các kỹ năng tư duy chuyên biệt cho mỗi ngành học. Đại học là cơ hội để bạn đứng ra ngoài thế giới trong vài năm, tách biệt bản thân giữa các giá trị truyền thống của gia đình và tiếng gọi cấp bách của công ăn việc làm, để chiêm nghiệm mọi thứ từ xa.

Song, học cách nghĩ mới chỉ là bước đầu. Có một điều quan trọng bạn cần nghĩ đến: xây dựng một nhân cách. Khái niệm này nghe có vẻ kỳ lạ. “Chúng tôi đã dạy chúng,” David Foster Wallace nói, “rằng nhân cách là thứ mà các anh phải có.” Chỉ bằng cách kiến lập một sự giao tiếp, một sự kết nối giữa tâm trí và trái tim, giữa kiến thức và trải nghiệm, bạn mới có thể trở thành một cá nhân, một sinh vật độc nhất - một tâm hồn. Công việc của đại học là dẫn dắt bạn để bắt đầu hành trình này. Những quyển sách, những ý tưởng, những tác phẩm nghệ thuật, những kiệt tác của tư duy, thông qua đó bạn sẽ nhận ra cách những bộ óc lớn đang tìm câu trả lời theo cách riêng của họ.

Đại học không phải là cơ hội duy nhất để học cách nghĩ, nhưng nó là cơ hội tốt nhất. Có một điều chắc chắn: Nếu bạn vẫn chưa bắt đầu làm nó cái lúc mà bạn đã tốt nghiệp, khả năng cao là bạn sẽ không làm nó sau này. Phần lớn bốn năm của bạn sẽ lãng phí nếu đại học chỉ thuần tuý chuẩn bị cho sinh viên ra trường đi làm.

Các trường đại học tinh hoa thường tự mãn rằng họ đang dạy học sinh cách nghĩ, nhưng những gì họ làm chỉ là đào tạo sinh viên các kỹ năng phân tích và hùng biện - những kỹ năng cần thiết để thành đạt trong kinh doanh và nghề nghiệp. Tất cả mọi thứ đều là kỹ nghệ - sự phát triển của chuyên môn hoá - và tất cả mọi thứ cuối cùng đều được giải thích bằng các thuật ngữ chuyên môn.

Các đại học tôn giáo - các đại học khu vực mà chẳng ai biết đến tên - thường làm tốt hơn trên phương diện này. Quả là một bản cáo trạng cho Ivy League và đồng bọn: rằng những trường đại học chỉ đứng bậc bốn trên bảng xếp hạng học thuật, tuyển vào những học sinh có điểm SAT thấp hơn học sinh của họ đến vài trăm điểm, lại đem đến một nền giáo dục tốt hơn, nền giáo dục với ý nghĩa đúng nhất của nó.
 
Ít nhất thì các trường đại học tinh hoa đều rất khắt khe và chất lượng trong vấn đề học thuật, không ư? Không nhất thiết. Nếu là các ngành khoa học thì thường là như vậy. Nhưng ở các ngành khác? Không nhiều lắm. Có một vài ngoại lệ, hẳn nhiên, nhưng các giáo sư và sinh viên đã ngầm ký kết một "hiệp ước không gây hấn”.

Sinh viên được các học viện coi như là “khách hàng” và thường được thoả mãn nhiều hơn là thách thức. Các giáo sư thường được trả thưởng nhờ các công trình nghiên cứu, vậy nên họ luôn cố gắng dành càng ít thời gian trên lớp càng tốt để tập trung cho đề tài nghiên cứu của mình. Chính sách đãi ngộ giáo viên kiểu này đang chống lại chính công việc giảng dạy, và các trường đại học càng danh giá, khuynh hướng này càng mạnh. Kết quả là những bài làm hiện nay dù chất lượng kém hơn nhưng lại được điểm cao hơn.

Đúng là thanh niên ngày nay giao tiếp và tham gia xã hội nhiều hơn là thanh niên vài thập kỷ trước, đúng là họ dễ thích nghi với các xu hướng sáng tạo và khởi nghiệp hơn. Nhưng nó đồng thời cũng đúng, ít nhất là ở các trường đại học danh giá, rằng nếu ngay cả những khát vọng này duy trì được tới lúc ra trường - một cái “nếu” lớn lao - họ thường giới hạn sự kiến tạo của mình trong nhận thức eo hẹp về điều gì tạo nên một cuộc sống giá trị: sự giàu có, thành tích, và thanh thế.

Trải nghiệm, bản thân nó, đã bị giảm xuống chỉ còn là một phương tiện để viết bài luận đại học. Từ việc học đến trải nghiệm, tất cả đều được biến thành thứ hàng hoá cho hồ sơ tuyển sinh, bước tiếp theo sau những con số và thành tích đẹp là tìm kiếm những trải nghiệm có thể đem ra sản xuất thành bài luận. Thời báo New York báo cáo rằng giờ đây đã có những trung tâm làm ăn phát đạt từ việc sản xuất các mùa hè chuẩn-bị-cho-bài-luận. Song, thứ làm chúng ta rùng mình nhất là sự nông cạn của những hoạt động này: một tháng du lịch vòng quanh nước Ý để học về thời kỳ Phục hưng, “cả một ngày” làm việc với một band nhạc. Cả một ngày cơ đấy!

Tôi nhận ra được một điểm chung từ những hoạt động thiện nguyện. Tại sao những học sinh đó lại phải cần đến những nơi như Guatemala (một quốc gia ở Trung Mỹ) để làm các dự án cứu trợ, thay vì những nơi rất gần như Milwaukee hay Arkansas (một thành phố và một bang của nước Mỹ)? Khi các bạn đang ở Mỹ, tại sao ai cũng phải đi bằng được đến New Orleans? Có lẽ đó chẳng phải điều đáng ngạc nhiên gì, khi bọn trẻ được dạy để nghĩ về việc tình nguyện, sự giúp đỡ người khác như là thứ để phục vụ cho lợi ích bản thân chúng - đúng vậy, một thứ để làm đẹp hồ sơ. “Thành công bằng cách làm việc tốt” trở thành một khẩu hiệu.

Nếu có một khái niệm, mà qua đó ý nghĩa của trách nhiệm xã hội được truyền đạt tại các ngôi trường danh giá, thì đó là “leadership” - kỹ năng lãnh đạo. “Harvard là nơi dành cho những nhà lãnh đạo” là một câu nói sáo rỗng của dân khu Cambridge. Trở thành một học sinh thành đạt đồng nghĩa với việc bị thôi thúc để nghĩ về bản thân như là một thủ lĩnh tương lai của xã hội. Nhưng những gì các đại học này nghĩ khi nói đến khả năng lãnh đạo không gì hơn là việc leo lên hàng top. Tạo dựng mối quan hệ ở một công ty luật có tiếng, trở thành một giám đốc, một CEO, leo lên đỉnh của bất cứ hệ thống cấp bậc nào bạn tham gia. Tôi không nghĩ với những con người ở các đại học tinh hoa thì leadership có ý nghĩa gì cao hơn, hay bất cứ ý nghĩa gì khác.

Điều mỉa mai là sinh viên ở các đại học tinh hoa được nói rằng họ có thể trở thành bất cứ thứ gì họ muốn, nhưng phần lớn cuối cùng đều chọn trở thành những thứ na ná nhau. Như vào năm 2010, khoảng 1/3 số sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học hàng đầu đều đi làm trong các công ty tài chính hoặc tham vấn tài chính, kể cả Harvard, Princeton, và Cornell. Những ngành nghề còn lại đã biến mất khỏi tầm nhìn của họ: từ quân sự, chính trị bầu cử, đến phần lớn các chuyên ngành học thuật, kể cả khoa học cơ bản.

Mọi người sẽ coi bạn là 1 kẻ hào hoa nếu bạn bỏ học từ một trong các trường danh giá và trở thành một Mark Zuckerberg tiếp theo, nhưng lại được coi là lố bịch nếu bạn làm một nhà hoạt động xã hội. “Thứ mà Phố Wall nhận ra,” Ezra Klein nói, “đó là các đại học đang sản xuất một lượng lớn những sinh viên ra trường dù ưu tú nhưng hoàn toàn bối rối. Những đứa trẻ sở hữu một mã lực tư duy khổng lồ, một đạo đức nghề nghiệp tuyệt vời, và không có tí khái niệm nào về việc chúng sẽ làm điều gì tiếp theo.”

Với phần lớn các đại học danh giá, hệ thống đang làm rất tốt việc của nó. Số lượng các hồ sơ nộp tuyển tiếp tục tăng lên, các nguồn tài trợ ngày càng phong phú, học phí tăng dù đem đến nhiều lời phàn nàn nhưng không hề có dấu hiệu xuống dốc trong kinh doanh. Còn việc nó có đang hoạt động tốt với những người khác không thì lại là một câu hỏi khác.
-------------

Chẳng phải lố bịch khi ta khẳng định rằng những trường đại học như Harvard là những pháo đài kiên cố của đặc quyền, nơi mà những người giàu gửi con em họ để học cách đi cách đứng, cách nói năng và suy nghĩ như một người giàu. Chẳng phải chúng ta đều biết điều này rồi sao? Chúng không được gọi là các đại học tinh hoa không vì ý nghĩa cả. Nhưng kết quả là chúng ta lại thích giả vờ theo một cách khác: rằng dù sao thì chúng ta vẫn đang sống trong thời đại của chế độ trọng dụng nhân tài (meritocracy).
 
Biểu hiện của công bằng xã hội được thể hiện qua hệ thống chính sách chạy bên dưới khẩu hiểu: “sự đa dạng” (diversity). Và đa dạng thực sự thể hiện điều gì khác hơn ngoài một cuộc cách mạng xã hội? Princeton, dù đã từng không nhận sinh viên nữ mãi cho tới năm 1961 - cũng là năm mà trường chỉ có duy nhất một sinh viên Mỹ gốc Phi - giờ đây có một nửa số sinh viên là nữ và chỉ có một nửa sinh viên là da trắng. Song, đa dạng về giới tính và màu da đã trở thành vỏ bọc cho phong trào phá bỏ nạn phân biệt chủng tộc - thứ cuối cùng lại đem đến rất nhiều tiền cho các trường. Các trường đại học tinh hoa vẫn đang phụ thuộc vào bộ mặt đạo đức họ có được từ cải cách giáo dục những năm 1960, khi họ quyết định một bước tiến táo bạo trong việc tháo bỏ cơ chế giáo dục chỉ phục vụ cho tầng lớp quý tộc da trắng.

Sự thật là chế độ trọng dụng nhân tài của chúng ta chưa bao giờ thực sự giải quyết được vấn đề thiên vị. Ghé thăm khuôn viên các trường đại học danh giá, bạn sẽ rung động trước cảnh tượng "ấm lòng" khi nhìn những đứa trẻ là con của các doanh nhân và chính khách da trắng đang học và chơi đùa bên cạnh những đứa trẻ khác là con của các doanh nhân và chính khách da đen, châu Á, hay Mỹ Latinh. Sinh viên ở Stanford nghĩ rằng chúng đang được học và sống trong một môi trường đa dạng nếu như một người đến từ Missouri và người khác đến từ Pakistan, hoặc nếu một người thì chơi cello và người kia thì chơi khúc côn cầu. Chẳng bận tâm rằng bố mẹ của chúng đều toàn là bác sĩ và giám đốc ngân hàng.

Điều đó không có nghĩa là không có một vài ngoại lệ, nhưng nhìn chung là vậy. Sự thật là, nhóm người yếu thế và khó khăn nhất trong xã hội chúng ta là tầng lớp lao động và những nông dân da trắng - những đối tượng gần như chẳng bao giờ xuất hiện ở một trường đại học danh giá của chúng ta. Cái "đa dạng” mà trường nói đến là tất cả những gì bạn đã thấy: những sinh viên với nhiều màu da và xuất xứ từ những gia đình thượng lưu và trung lưu đến đây học và chung sống với nhau.

Đừng tự lừa phỉnh bản thân nữa: Trò chơi tuyển sinh đại học này không phải là để tầng lớp hạ lưu và trung lưu tìm cách vươn lên trong xã hội, và cũng chẳng phải để tầng lớp thượng lưu cố gắng duy trì vị trí của họ. Nó là để xác định các vị trí của hệ thống cấp bậc bên trong chính tầng lớp thượng lưu. Tại những vùng ngoại ô và thành thị giàu có nơi mà chủ yếu trò chơi này đang được cạnh tranh, vấn đề không phải bạn có được nhận vào một trường đại học tinh hoa hay không. Mà vấn đề là bạn đi học ở ngôi trường tinh hoa nào. Đó là cuộc chạy đua giữa Penn và Tufts, không phải là Penn với Penn State. Chuyện một thanh niên sáng dạ có thể đi học ở Ohio State (một trường thường), trở thành một bác sĩ, có nhà ở Dayton, và có một cuộc sống khá giả chẳng có gì đáng kể. Kết quả như vậy vẫn là quá xoàng để nghĩ đến.

Hệ thống đang ngày càng làm gia tăng sự bất công, khoảng cách giàu nghèo, làm ì ạch sự dịch chuyển của xã hội, bảo vệ duy trì những đặc quyền, và tạo ra một tầng lớp tinh hoa tách biệt hoàn toàn khỏi cái xã hội mà lẽ ra họ phải lãnh đạo. Những con số là không thể chối cãi. Năm 1985, 46% sinh viên năm nhất tại top 250 trường đại học danh giá đến từ một phần tư số dân có thu nhập cao nhất. Đến năm 2000, con số này là 55%. Vào năm 2006, chỉ có khoảng 15% số sinh viên của những ngôi trường cạnh tranh nhất đến từ nửa nghèo nhất của dân số. Trường càng danh giá, xu hướng bất bình đẳng giữa các sinh viên được chọn càng cao. Các đại học công lập cũng chẳng khá hơn gì các trường đại học tư là mấy. Như năm 2004, 40% số học sinh được nhận từ các trường công danh giá nhất đến từ những gia đình có thu nhập từ 100,000$ trở lên.

Lý do chính cho xu hướng này rất rõ ràng. Không phải là vì học phí tăng (dù đó cũng là một yếu tố), mà là do kinh phí không ngừng tăng để sản xuất ra một đứa trẻ thích hợp để cạnh tranh trong trò chơi tuyển sinh này. Càng nhiều chướng ngại vật, số tiền bỏ ra càng đắt đỏ để mua "bệ phóng” giúp con bạn vượt qua những yêu cầu tuyển sinh đó.

Những gia đình giàu bắt đầu bỏ tiền để mua cho con họ một con đường đến với các trường đại học tinh hoa từ khi đứa trẻ mới sinh ra: học nhạc, học thể thao, du lịch nước ngoài (thông qua các chương trình “làm phong phú trải nghiệm”) - quan trọng nhất, hẳn nhiên, là học phí đắt đỏ trả cho các trường tư hoặc sinh hoạt phí ở các trường công top đầu.

Bài thi chuẩn hoá SAT đáng nhẽ ra được dùng để đánh năng lực, nhưng thực ra nó là thứ để đánh giá khả năng thu nhập của cha mẹ.

Ngày nay, ít hơn một nửa các học sinh giỏi nhưng gia đinh thu nhập thấp có ý định đăng ký vào đại học.
 
Vấn đề không phải là không nhiều các học sinh nghèo nhưng giỏi và đủ tư cách để được chọn. Các trường không thể chi trả cho tất cả những học sinh nghèo này được - họ cần có một lượng lớn những học sinh có thể trả toàn bộ học phí và nguồn tài trợ thì không bao giờ là đủ cho tất cả mọi trường hợp - thậm chí còn không rõ là họ có muốn hay không.

Do vậy, khó có thể là do trùng hợp tình cờ khi bất bình đẳng trong thu nhập ngày càng tăng, hoặc sự chuyển dịch xã hội của Mỹ đang thấp hơn gần như tất cả các quốc gia phát triển khác. Các đại học tinh hoa không chỉ bất lực trong việc đảo nghịch xu hướng bất bình đẳng trong xã hội; chính sách của họ thậm chí chủ động thúc đẩy nó.
-------------

Có điều gì tôi có thể làm, rất nhiều bạn trẻ từ các trường danh giá đã viết thư hỏi tôi, để tránh việc trở thành một cục “shit" hạng nhất được bao vây bởi những đặc quyền? Tôi không có một câu trả lời thoả đáng. Bạn không thể đơn giản nghĩ ra một cách để đồng cảm với những người có hoàn cảnh khác mình khi bạn chẳng biết gì về họ cả. Bạn cần tiếp xúc trực tiếp với họ, và nó phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng: không phải trong bối cảnh “tình nguyện”, không phải với tinh thần “cố gắng”, và cũng chẳng phải như cách bạn “mua một cốc cafe cho một thành viên ban cố vấn đại học để làm quen và hỏi thông tin cá nhân của họ”.

Thay vì tình nguyện, tại sao không thử làm công việc của những người bạn muốn giúp đỡ? Điều đó sẽ cho bạn rất nhiều nhận thức sâu sắc về cuộc sống của những con người này. Tại sao không thử làm công việc bồi bàn để tự thân nhận ra việc này khó khăn đến đâu, cả về thể chất lẫn tinh thần? Bạn thực sự không hề thông minh như những gì mọi người vẫn nói về bạn; bạn chỉ thông minh hơn ở một vài khía cạnh thôi. Ngoài kia có rất nhiều những con người thông minh nhưng không đến các trường đại học danh giá, hoặc thậm chí bất cứ đại học nào - chủ yếu là vì lí do giai cấp.

Tôi đang không ảo tưởng khi nói rằng việc bạn đi học ở đâu thực sự không quan trọng. Nhưng chúng ta có những lựa chọn. Vẫn có những trường đại học công rất tốt ở khắp các vùng trên cả nước. Hệ thống giáo dục ở đó chủ yếu chú trọng vào cá nhân, và thực sự đem đến một môi trường đa dạng về xuất thân kinh tế xã hội, cùng với tất cả những trải nghiệm đáng giá nó có thể đem đến.

Tờ báo U.S News and World Report cung cấp những con số phần trăm tỉ lệ các sinh viên năm nhất đứng trong top 10 ở trường trung học của họ. Với 20 trường đại học top đầu, con số này thường cao hơn 90%. Tôi sẽ rất lo lắng nếu đi học ở một ngôi trường như vậy. Các sinh viên quyết định chất lượng của các buổi tranh luận trong lớp; họ định hình các giá trị và kỳ vọng của bạn, dù tốt hay xấu. Một phần cũng là vì chất lượng sinh viên mà tôi vẫn khuyên học sinh tránh xa Ivy và đồng bọn của chúng. Những sinh viên ở các trường ít danh giá hơn thường thú vị hơn, tò mò hiếu học, cởi mở hơn, và ít thích cạnh tranh hay ít được thiên vị hơn.

Nếu có một nơi nào đó mà đại học vẫn là đại học - nơi mà giảng dạy và nhân văn vẫn đi chung với nhau - thì đó là các đại học liberal arts (các trường đại học khai phóng). Những trường này thường nhỏ, không phải một nơi hợp với tất cả, và thường khá cô lập, cũng là một thứ không phải dành cho tất cả. Lựa chọn tốt nhất có lẽ là các trường bậc hai (các trường dưới top 50 nhưng trên top 100) như là Reed, Kenyon, Wesleyan, Sewanee, Mount Holyoke, và các trường khác. Thay vì cố gắng cạnh tranh với Harvard và Yale, các trường này duy trì lòng trung thành của mình với những giá trị giáo dục đích thực.

Không biến thành một cục “shit” sống trong đặc ân cả đời là một mục tiêu đáng ngưỡng mộ. Nhưng cuối cùng thì vấn đề cốt lõi đó là hoàn cảnh đã không cho chúng ta một lựa chọn nào khác. Thời khắc đã đến, không chỉ đơn giản là cải cách cả hệ thống từ trên xuống dưới, mà là tìm một lối thoát cho chúng ta để cùng nhau tiến đến một xã hội kiểu mới.

Hệ thống giáo dục cần phải hành động để giảm nhẹ sự phân chia giai cấp, chứ không phải mô phỏng và tái sản xuất nó. Cuộc cách mạng chúng ta cần làm bây giờ nên dựa trên giai cấp chứ không phải sắc tộc. Sự ưu tiên cho con ông cháu cha và các vận động viên cần bị loại bỏ. Điểm SAT nên được xem xét cùng với các nhân tố kinh tế xã hội của học sinh.

Các trường đại học nên chấm dứt vấn nạn nhồi-nhét-vào-hồ-sơ bằng cách đưa ra giới hạn số hoạt động ngoại khoá bọn trẻ có thể liệt kê ở đơn xin học của chúng. Họ nên đề cao các trải nghiệm công việc thiện nguyện mà những học sinh thu nhập thấp vẫn thường làm khi ở trung học mà những đứa trẻ thành đạt chẳng bao giờ mó đến. Họ phải từ chối chuyện thiên vị với những cơ hội mà họ có thể tận dụng từ sự giàu có của cha mẹ học sinh. Và tất nhiên, họ nên dừng lại việc hợp tác với tờ U.S News (Trang xếp hạng các trường đại học ở Mỹ).

Nhìn chung, họ cần phải suy nghĩ lại khái niệm của việc trọng dụng nhân tài. Nếu các trường muốn đào tạo một thế hệ những nhà lãnh đạo tốt hơn so với chúng ta đang có hiện nay, họ phải tự hỏi bản thân xem những phẩm chất gì nên được thúc đẩy.

Chọn học sinh từ điểm GPA và số lượng hoạt động ngoại thường có lợi cho những học sinh tuân thủ biết nghe lời hơn là những bộ óc độc lập và sáng tạo.

Song, sự thay đổi cần đi sâu hơn là chỉ cải cách hệ thống tuyển sinh. Nó có thể giải quyết vấn đề thường thường, nhưng không thể giải quyết vấn đề bức bối hơn của bất công. Vấn đề nằm trong chính Ivy League. Chúng ta đã ký kết sự đào tạo tầng lớp lãnh đạo cho một vài trường đại học tư nhân. Dù họ có khẳng định hành động vì lợi ích chung như thế nào đi nữa, họ luôn đặt quyền lợi của mình lên trước. Liệu ham muốn tiền tài trợ từ cựu học sinh của Harvard có phải là một lí do chính đáng để cứ duy trì mãi mãi hệ thống giai cấp như thế này?

Tôi đã từng nghĩ rằng chúng ta cần tạo ra một thế giới nơi mà tất cả những đứa trẻ đều có cơ hội ngang nhau để được học ở Ivy League. Nhưng tôi đã nhận ra rằng thứ mà chúng ta thật sự cần là tạo ra một xã hội mà con em chúng ta KHÔNG CẦN phải học ở Ivy League, hay bất cứ trường tư nào, để có một giáo dục tốt.

Đó là nền giáo dục công chất lượng cao, được cấp tiền từ ngân sách công, cho quyền lợi của tất cả mọi người: thứ đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của giáo dục công lập sau những năm chiến tranh. 
 
Tất cả mọi người đều có cơ hội như nhau để có thể tiến xa nhất xứng đáng với nỗ lực và tài năng của họ - bạn biết đó, chính là giấc mơ Mỹ. Tất cả mọi người đều nên được trải nghiệm nền giáo dục khai phóng mà các trường liberal arts đang tạo ra để có được một tâm trí rộng mở, một tâm hồn giàu có.

Chúng ta đã nhận ra rằng nền giáo dục chất lượng và miễn phí từ tiểu học đến phổ thông là một quyền con người. Chúng ta cũng nên nhận ra - như cách mà chúng ta đã từng và rất nhiều quốc gia khác đang - rằng điều đó cũng đúng với giáo dục đại học. Chúng ta đã từng có chế độ quý tộc. Chúng ta đã từng có chế độ nhân tài. Giờ là lúc cần có được một nền dân chủ.

P.S: Để mắt thấy tai nghe cuộc tranh luận này, bạn có thể xem thêm video dài 1h45’ của tác giả bị “luộc” tại chính trường Harvard, với “ban chất vấn” là những đại diện cốt cán của trường như Homi K. Bhabha, Director of Humanities Center; Rakesh Khurana, Dean of Harvard College; Diana Sorensen, Dean for the Arts and Humanities; Fawwaz Habbal; Executive Dean for Education and Research, Harvard School of Engineering and Applied Sciences...

Hãy nghe chính tiếng nói từ những người trong cuộc như các sinh viên, giảng viên, trưởng khoa của Harvard...để xem liệu “căn bệnh ung thư” mà William Deresiewicz nói đến có thực sự tồn tại hay không.




Vấn đề gia đình, trong phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc

 Cuối năm 2021, trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu quan trọng, nêu bật tình hình, các hiện t...