Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Tuyên truyền "Tôi là người Ukraina"???

Propaganda "I am a Ukrainian"

Đoạn phim ngắn sặc mùi tuyên truyền Mỹ  “Tôi là người Ukraina” được post lên youtube ngày 10-2 và lan đi với tốc độ chóng mặt, chỉ trong một thời gian ngắn đã đạt kỷ lục hơn 7 triệu lượt xem.

Đoạn phim này được các chấy rận dịch ra tiếng Việt với ý đồ tuyên truyền VN hãy làm cách mạng màu lật đổ chính quyền như Ukraina.

Nó giống giống như các đoạn phim tuyên truyền khác lặp đi lặp lại ở Nam Tư, Iraq, Libya…

Mở đầu đoạn phim, cô gái trẻ đứng trước cảnh bạo lực trên đường phố Kiev, cảnh sát đánh đập, bắn vào người biểu tình. Cô gái với giọng xúc động nói “Tôi là người Ukraina và tôi sinh ra ở Kiev” (I am Ukrainian and I come from Kiev), cô ta giải thích lý do tại sao hàng ngàn người xung quanh cô lại xuống đường biểu tình, và kêu gọi thế giới giúp đỡ.

Thế nhưng, bộ phim tuyên truyền này lại hoàn toàn không tin cậy. Một trang web của Ba Lan phát hiện ra cô này hoàn toàn không phải là người Ukraina và dĩ nhiên cũng chẳng sinh ra ở Kiev. Cô ta là dân Moldova và đang sống ở Mỹ, một diễn viên đóng phim không mấy tên tuổi.

Đoạn clip cũng bị vạch mặt bởi 1 thành viên Facebook có tên là “Russian Polish Friendship Society”. Trên trang Infowars.com, một tác giả tên là Paul J. Watson cũng có bài viết vạch rõ đoạn phim giả mạo, gọi đó là: “âm mưu tuyên truyền”. Watson cho rằng bộ phim này được làm bởi chính phủ Mỹ.



Hẳn nhiên ông Watson có lý do, và không khó để dẫn chứng về điều ông nói. Nick đầu tiên đưa phim lên youtube có tên là “Whisper Roar” (từ bàn tán đến gào thét). Nick này gợi ý người xem vào trang web http://awhispertoaroar.com/ để có nhiều thông tin hơn.

Nội dung trang web là 1 bộ phim tuyên truyền khác “From a whisper to a scream” (từ bàn tán đến gào thét) nói về xung đột, bất ổn giữa chính quyền với dân chúng ở một số đất nước như Ai Cập, Malaysia, Venezuela, Zimbabwe và cả Ukraina. Nội dung là đòi tự do dân chủ ở những đất nước này. Các nhà làm phim khá tên tuổi như Ben Moses và Larry Diamond – cũng là những người hoạt động chính trị, hay thành viên của Hội đồng đối ngoại Mỹ và có quan hệ thân cận với bộ Ngoại giao Mỹ. Bộ phim lấy cảm hứng từ tác phẩm “The Spirit of Democracy” (Linh hồn dân chủ) của Larry Diamond, giám đốc “Trung tâm dân chủ, phát triển và pháp quyền” của  trường ĐH Stanford. Bộ phim được tài trợ bởi Quỹ Moulay Hicham của Ma-rốc, mang tên vị hoàng tử ủng hộ “dân chủ” có tiếng. Như vậy có thể đoán được các tác giả của 2 bộ phim này chỉ là một.

Cô ả trong đoạn phim “I am a Ukraina” sở dĩ bị phát hiện là từ nghi ngờ nhiều cảnh quay trong đoạn clip giống như trên media phương Tây, không phải cô ta tự quay. Ngoài ra cô ta còn đóng trong 1 đoạn phim ngắn khác trước đó nhưng không mấy được chú ý, ngồi trước tòa nhà TT liên đoàn thương mại Kiev đang bốc cháy, kêu gọi thế giới can thiệp, thay đổi hoàn cảnh Ukraina với bày tỏ mong muốn được sống cuộc sống bình thường ở Ukraina.

Một con điếm rẻ tiền!



Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Mỹ đã đầu tư hơn 5 tỷ đô la để giúp Ukraina!?

Trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách châu Âu, Victoria Nuland phát biểu: 

"Kể từ khi Ukraina tuyên bố độc lập vào năm 1991, Mỹ đã hỗ trợ Ukraina trong sự phát triển các thể chế dân chủ và kỹ năng trong việc thúc đẩy xã hội dân sự và thể thức của chính phủ - tất cả những gì cần thiết để đạt được mục tiêu châu Âu của Ukraina. Chúng tôi đã đầu tư hơn 5 tỷ đô la để giúp Ukraina đạt được những mục tiêu này khác… Rằng Mỹ sẽ tiếp tục “thúc đẩy Ukraina đến tương lai nó xứng đáng."


Tại: “Hội nghị kinh doanh quốc tế ở Ukraine” tổ chức tại Câu lạc bộ báo chí quốc gia – Washington;  ngày 13 tháng 12 năm 2013;


Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Dân chủ hóa, NGO và các cuộc cách mạng màu - P.6

Quản trị "tốt" vs quản trị "xấu"

Trước khi rút ra bài học cuối cùng từ phân tích này, sẽ là đáng giá khi biết lý do tại sao các cuộc bầu cử có vấn đề bởi các nhà cầm quyền bán độc tài trong các nước hậu cộng sản khác đã không kết thúc bằng cách mạng màu. Lý do chính tại sao Ilham Aliev, người thừa kế của chế độ chuyên chế Heydar Aliev ở Azerbaijan, có thể sửa chữa cuộc bầu cử quốc hội 2005 mà không có bàn tay đi găng tay của cỗ máy quan hệ công chúng Washington và NED, NGO, đó là lòng trung thành của chế độ ông ta đối với lợi ích năng lượng Mỹ và Anh trong các đường ống dẫn dầu Baku-Tiblisi-Ceyhan.

Đây là lần thứ hai Ilham Aliev hiển nhiên thao túng cuộc bầu cử và đã trôi đi mà không có hậu quả. Người kế vị trong cuộc bầu cử TT 2003 nổi tiếng không chỉ được tha thứ ở Washington mà còn nhận được lời chúc mừng từ Lầu Năm Góc.

Người quyền lực kiểu Stalin ở Uzbekistan, là Islam Karimov, đã tàn nhẫn dẹp tan cuộc biểu tình quần chúng ở Andijan chống tham nhũng và vụ bắt giữ tùy tiện tháng 5 năm 2005, giết chết 500, làm bị thương 2.000 người, nhưng Washington lặp lại tuyên bố của chính phủ Uzbek, những kẻ đó là "những kẻ khủng bố Hồi giáo".

Karimov, vào thời cảm hứng cách mạng hoa tulip, đã là đồng minh trung thành của Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố ở Trung Á, đó là một chính sách bảo hiểm để chống lại áp lực dân chủ hóa. Hành động sớm của ông ta trước cuộc bầu cử quốc hội tháng 12 năm 2004 và sau cuộc cách mạng hoa tulip đã đuổi và siết chặt các hoạt động của NED, các NGO mà không có sự đáp trả với bất kỳ sự chỉ trích nào từ chính phủ Mỹ. So sánh Uzbekistan với các cuộc cách mạng màu khác, P. Escobar đã viết: "Các cựu quyền lực trước cách mạng màu ở Georgia, Ukraine và Kyrgyzstan là con quái vật lẽ ra đã phải bị loại bỏ để 'tự do và dân chủ' thắng thế. Vì vậy, lãnh đạo Belarus, không phải là Karimov, mới là nhà độc tài 'của chúng tôi'."


 

Các nguyên nhân cần thiết để thay đổi chế độ

Các trường hợp nghiên cứu đã xác nhận hệ biến hóa chủ nghĩa hiện thực bằng cách chứng tỏ rằng các NGO dân chủ của Mỹ là cần thiết, nhưng chưa đủ, cho các cuộc cách mạng màu. Trừ khi các chiến lược gia đối ngoại Mỹ quyết định tung ra và đổ bộ nguồn lực quân sự, kính tế và tình báo của họ cùng các NGO, cảnh tượng nào sắp đặt cách mạng màu nào khác là không thể. Thiếu sự lên tiếng mạnh mẽ và đường lối chỉ đạo của Mỹ, NED và các NGO không thể quản lý sân khấu thay đổi chế độ của mình cùng với các nhà hoạt động địa phương. Yếu tố thúc đẩy từ Washington đã kích thích NGO vào chỗ đứng chiến tranh để lật đổ chế độ.

Cách mạng cam và tulip là trường hợp "thay đổi chế độ", nhưng không phải "thay đổi hình thái chế độ", chúng không làm cho Ukraine và Kyrgyzstan có dân chủ. Bởi bản chất của chúng, là những trường đoạn thay thế tầng lớp chống phương Tây bên trên bằng những kẻ thân phương Tây, không thay đổi sâu rộng mà chỉ tu sửa chính thể. Thậm chí một định nghĩa tối giản của nền dân chủ - bầu cử tự do và công bằng - không có gì rõ ràng là đã đạt được trong hai trường hợp Ukraina và Gruzia.

Thay đổi quá ít ỏi là bản chất của những thay đổi chế độ như vậy, là một trò đùa khi gọi đó là "cuộc cách mạng", một thuật ngữ tuyên truyền của chính phủ Mỹ và phương tiện truyền thông phương Tây. Sự thay thế Kuchma bởi Yushchenko và Akayev bởi Bakiyev không có nhiều tính "cách mạng" so với việc lật đổ Saddam Hussein ở Iraq, thứ được chính quyền Bush đặt tên thánh là "cuộc cách mạng tím". Sự khác biệt trong các phương pháp - NGO và những mưu đồ hậu cung trong các nước hậu cộng sản và xâm lược quân sự trực tiếp ở Iraq - không vô hiệu hóa sự giống nhau của biến số độc lập: tham vọng chiến lược của Mỹ.

Dự đoán cho tương lai thay đổi chế độ theo phương pháp cách mạng màu sẽ cần phải được theo dõi cẩn thận để xem tham vọng của Mỹ ở các quốc gia hậu Xô Viết như thế nào và làm thế nào để nó hình thành nên chuỗi công cụ quyền lực cứng và mềm. Chiến lược của Mỹ cũng sẽ phụ thuộc vào đặc thù chính trị trong từng nước riêng rẽ, các yếu tố không được đề cập đầy đủ trong bài viết này là do vấn đề về phương pháp luận bậc tự do.

NGO Mỹ có hiệu quả cao trong một số môi trường nội địa nào đó và trong những thời điểm nào đó. Phá hoại ngầm có thể đã là đủ ở một số quốc gia trong khi một cuộc tấn công quân sự quy mô đầy đủ có thể là cần thiết ở những quốc gia khác. Như Peter Gourevitch chỉ ra, thuần túy nguyên nhân quốc tế gây ra các vấn đề nội bộ là "không hoàn toàn thuyết phục" ngoại trừ trong trường hợp chỉ có xâm lược và chiếm đóng quân sự của lực lượng nước ngoài. Một loạt các nguyên nhân bên trong là cần thiết cho sự thay đổi chế độ sẽ phải bao gồm các biến động chính trị, kinh tế xã hội bên trong, bên cạnh sự can thiệp mang thương hiệu NED.




Tác giả: Sreeram Chaulia, một nhà văn, nhà báo Ấn Độ;

Dân chủ hóa, NGO và các cuộc cách mạng màu - P.5

Trồng hoa tulip ở Kyrgyzstan


Trung Á từ lâu đã trong tầm ngắm của trò chơi cạnh tranh quyền lực. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, George Bush và chính quyền Clinton xác định một tập hợp các mục tiêu địa chiến lược cho khu vực có rất nhiều sự can thiệp nặng nề này: "Để đảm bảo nguồn năng lượng thay thế, giúp Trung Á đạt được quyền tự chủ khỏi bá quyền Nga, ngăn chặn ảnh hưởng Iran, và thúc đẩy tự do kinh tế chính trị."

Từ 1993, mục tiêu đa dạng hóa dự trữ năng lượng dài hạn (tìm kiếm giải pháp thay thế cho các nguồn Vịnh Ba Tư) và áp lực từ khu vực dầu khí tư nhân "bắt đầu chiếm lĩnh sân khấu trung tâm" trong chính sách của Washington đối với Kazakhstan và Turkmenistan. Lầu Năm Góc gây sức ép để gia tăng sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực và đã thành công trong việc đảm bảo an ninh cho 4 trong số 5 quốc gia Trung Á, bao gồm Kyrgyzstan, “Đối tác NATO vì Hòa bình” năm 1994 (Nato’s Partnership for Peace).

Thường xuyên diễn tập quân sự chung và đào tạo "khả năng tương tác" trong những năm Clinton được trông đợi ​​sẽ có các căn cứ quân sự Mỹ trong khu vực để từ đó chống lại tham vọng bá quyền Nga và Trung Quốc. Với trữ lượng dầu mỏ và khí tự nhiên hạn chế, nền kinh tế yếu của Kyrgyzstan phụ thuộc nhiều vào Nga, mối nguy hiểm mà chính quyền Clinton muốn chống lại bằng cách làm sâu sắc hơn lợi ích quốc phòng Mỹ và thúc giục IMF cùng WB cho vay tiền ồ ạt để tăng cường hỗ trợ chính phủ tương đối dân chủ của Askar Akayev.

Hỗ trợ kỹ thuật của IMF là quan trọng đối với Kyrgyzstan để trở thành nước đầu tiên trong vùng rời khỏi khu vực đồng rúp Nga. Mặc dù năm 1999, việc mở rộng Hiệp ước an ninh tập thể CIS đã thúc đẩy đòn bẩy quân sự Nga tại Kyrgyzstan, thì phong trào Hồi giáo Uzbekistan (IMU) vẫn bắt cóc người và xâm nhập dễ dàng vào lãnh thổ Kyrgyzstan, làm lộ ra kẽ hở trong bộ máy an ninh Akayev. Khi Kyrgyzstan bị lôi kéo vào tình trạng hỗn độn trong trung tâm Hồi giáo châu Á về địa lý, xung đột biên giới và buôn bán ma tuý, cuộc đua ngầm Mỹ-Nga để lập căn cứ quân sự ở đây trở thành công khai, mở đường cho cuộc cách mạng hoa tulip.

Sau 11-9-2001, Lầu Năm Góc đã mạo hiểm trong một cuộc phiêu lưu mới: "Triển khai căn cứ quân sự của Mỹ ở nước ngoài lớn nhất kể từ WW-II đến “vòng cung bất ổn” chạy qua vùng biển Caribbean, Châu Phi, Trung Đông, vùng Caucasus, Trung Á và Nam Á."

Mắc bẫy tiền, Akayev mở căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ trong khu vực tại Manas, bên ngoài thủ đô Bishkek, một sự cài cắm không hề bị xem nhẹ ở Moscow. Trung Quốc, nước có chung biên giới với Kyrgyzstan cũng đã báo động tương tự như Nga, họ cùng Nga lái Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO - Shanghai Cooperation Organisation) hướng về phía chống đối và tìm cách kết liễu căn cứ quân sự Mỹ ở Trung Á. Với kỳ vọng căn cứ Manas sẽ làm "giảm sự phụ thuộc vào Nga của Kyrgyzstan", ngoài việc là một trung tâm hậu cần cho cuộc chiến ở Afghanistan, thì ngược lại vào năm 2003 TT Putin đàm phán với Akayev để mở một căn cứ không quân của Nga tại Kant – cách 30 cây số đến căn cứ Mỹ.

Trung Quốc cũng bị nói đã tham gia vào đàm phán bí mật để có căn cứ của riêng mình tại Kyrgyzstan và điều chỉnh biên giới, những điều đó dấy lên một cơn bão chính trị chống lại Akayev vào tháng 3 năm 2002. Bộ nội vụ Nga, "người bạn mới của Akayev", đã giúp xoa dịu các cuộc biểu tình. Akayev hướng Kyrgyzstan đến với Trung Quốc thông qua "con đường ngoại giao tơ lụa" và đàn áp quân du kích người Duy Ngô Nhĩ – như giải thích chủ yếu là do nhu cầu tuyệt vọng của ông để có nguồn tài chính chèo chống nền kinh tế trong nước đang trong vòng xoáy sụp đổ - điều đó làm cho Washington rất thất vọng, nhìn Bắc Kinh như một cái gai trong chiến lược mở rộng vùng ảnh hưởng.

Quan điểm của Mỹ về sự phát triển nguy hiểm này là như sau: "Căn cứ vào 1.100 km biên giới giữa Kyrgyzstan và Trung Quốc - và chỗ đứng đã thực sự đáng kể của Washington ở gần Uzbekistan và Tajikistan – thì sự sụp đổ của chính phủ thân Trung Quốc của TT bị ruồng bỏ Askar Akayev sẽ không hẳn là chiến thắng nhỏ đối với ‘chính sách ngăn chặn’".

Trước sự phản công Trung-Nga, người ta thấy rằng tại Bishkek, xu hướng dần dần độc đoán của Akayev đã không mấy làm Washington động lòng. Cuộc bầu cử TT gian lận của ông ta năm 2000 đã đi vào quên lãng, bởi chính phủ Mỹ, mặc dù các quan sát viên NDI gọi là nó không công bằng và đầy thiên vị bất hợp pháp của bộ máy nhà nước. Trong thực tế, nghiên cứu của Eric Mcglinchey về nguyên do Akayev rơi vào chính sách phản dân chủ đã đổ lỗi thẳng vào trách nhiệm xúi giục của IMF và Mỹ, đã cho phép ông ta "cưỡng chế tranh luận chính trị và xây dựng lại chế độ độc tài."

Đã o bế Akayev trong hơn một thập kỷ, giờ chính quyền Bush quay ngược lại và trước cuộc cách mạng hoa tulip cũng không phải là tính toán 1 đêm về việc làm thế nào mà ông ta đã trở thành chuyên chế, cũng như bài toán khó nhọc rằng lợi ích sống còn của mình đã không còn được ông ta phục vụ. Những hậu quả của việc Washington không hài lòng có thể nhìn thấy ở "tin tức từ Kant" (khai trương căn cứ Nga) được ghi nhận như sau: "Văn phòng IMF tại Bishkek đã trở thành cứng rắn hơn đối với Kyrgyzstan và Bộ Ngoại giao đã mở nhà in độc lập của riêng mình - đó có nghĩa là các tờ báo đối lập sẽ trở lại với đầy đủ sức mạnh." (P. Escobar)

Ảnh: Askar Akayev và ông Bush tại Nhà Trắng năm 2002

Các nguồn tin ngoại giao bắt đầu hồ sơ ngay sau thỏa thuận Kant có kết quả, Akayev bị đưa vào "danh sách theo dõi của Mỹ" và "Mỹ đã bắt đầu hỗ trợ mọi yếu tố có thể thấy được để dàn trận chống lại ông ta."

Dân chủ hóa Kyrgyzstan, một chú thích trong chính sách của Mỹ, đột nhiên được gấp rút quàng cho một vầng hào quang. Cũng nên thêm rằng có một lý do chiến lược chung được tranh luận trong chính quyền Bush về dân chủ ở Trung Á sau vụ 911. Kể từ khi cảm xúc chống Mỹ phổ biến trong khu vực Trung Á nhưng không cao như ở các bộ phận Hồi giáo khác trên thế giới, "nguy cơ dân chủ trong khu vực tương đối nhỏ." Chiến thắng trái tim và khối óc của người Hồi giáo Trung Á thông qua dân chủ hóa" sẽ không chỉ tạo thuận lợi cho quá trình tự do hóa nền kinh tế, mà còn, như một sản phẩm, tăng cường sự ủng hộ cho Mỹ."

Vụ 911 mở ra một hiện thực kinh điển "cửa sổ cho cơ hội mà qua đó một ‘vòng cung ổn định' có thể được thiết lập trong các khu vực chiến lược quan trọng giữa biển Caspian và biên giới phía tây bắc Trung Quốc." Có sự mâu thuẫn lẫn lộn trong triển khai, quan điểm cho rằng thúc đẩy dân chủ có thể làm mềm thách thức Hồi giáo thích hợp cho Kỷ nguyên Mỹ (Pax Americana) trong khi sự bất mãn với tính hữu dụng của AkayevWashington đang gia tăng. Kyrgyzstan, với dân số chỉ 5 triệu (thấp thứ 4 trong khu vực) đã nhận được tổng cộng $26,5 triệu cho "cải cách dân chủ" từ cơ quan ngoại giao trong 2003-2004, chỉ đứng sau Uzbekistan đông dân hơn. Còn như với Ukraine, con số chính thức đã là cả 1 gia tài.

Từ 2003, NED, các NGO đã vào cuộc hành động để đảm bảo thay đổi chế độ tại cuộc bầu cử quốc hội tiếp theo quay lại chống Akayev, người ban đầu đã cho phép NGO tiếp cận với đất nước, trong thời kỳ hoàng kim của IMF và USAID cho vay có điều kiện. Thậm chí nhiều hơn ở Ukraine, sự thống trị của Mỹ trong lĩnh vực NGO địa phương đã hoàn tất tại Kyrgyzstan. P. Escobar mô tả sự độc quyền của xã hội dân sự địa phương như sau: "Trên thực tế, tất cả mọi thứ đem đến cho xã hội dân sự tại Kyrgyzstan được tài trợ bởi Quỹ của Mỹ, hoặc do USAID. Ít nhất 170 tổ chức NGO chịu trách nhiệm phát triển hay. phổ biến dân chủ đã được tạo ra hay bảo trợ bởi người Mỹ."

Sự kiểm soát tuyệt đối xã hội dân sự Kyrgyzstan bởi NED và NGO là phức tạp bởi tính chất tài trợ theo định hướng "xây dựng xã hội dân sự" thực hiện trong khu vực. Nghiên cứu thực địa của Fiona Adamson về dân chủ hóa tại Kyrgyzstan phát hiện ra rằng: "Các tổ chức NGO địa phương nhận được gần như 100% quỹ của họ từ các diễn viên quốc tế và có thể dễ dàng trở thành gần như nhà tài trợ bị dẫn dắt 100%. Các nhà bảo trợ quốc tế ngầm hay công khai mong đợi các NGO địa phương quản lý các chương trình mà không nhất thiết là phù hợp với nhu cầu địa phương."

Trong số các chiến lược được thông qua bởi các NGO nhân danh dân chủ là giành chiến thắng trước giới bề trên địa phương về những lý tưởng và các mô hình phương Tây, chiến thuật tâm lý chiến chiến tranh lạnh. IREX tổ chức hội nghị, hội thảo, "hỗ trợ kỹ thuật" và chương trình trao đổi với giới tinh hoa Kyrgyzstan, tin rằng sự thay đổi chính trị trong nước xuất phát từ việc tiếp xúc với những ý tưởng phương Tây.

Thi hành chiến thuật này là hiển nhiên bởi xu hướng các tầng lớp kinh doanh và chính trị Kyrgyzstan tán thành mối quan hệ an ninh và kinh tế chặt chẽ hơn với Mỹ. Kurmanbek Bakiyev của Phong trào Quốc gia Kyrgyzstan, người thay thế Akayev làm thủ tướng sau cuộc cách mạng tulip, từng được gửi đến Mỹ qua một chương trình trao đổi. Felix Kulov, lãnh đạo mới về an ninh, và Omurbek Tekebayev, chủ tịch mới của quốc hội sau cuộc cách mạng tulip, cũng là kẻ hưởng lợi từ chương trình đỡ đầu thăm viếng ngoại giao-nhà nước.

Tekebayev tiết lộ những gì ông ta học được một các thẳng thắn khi đi chơi Washington: "Tôi thấy rằng người Mỹ biết làm thế nào để lựa chọn con người, biết làm thế nào để đánh giá chính xác về những gì đang xảy ra và báo trước tương lai phát triển, thay đổi chính trị."

Các lãnh đạo đối lập hàng đầu trong bầu cử quốc hội năm 2005 như Roza Otunbayeva đã có danh tiếng là "yêu thích của Washington", mặc dù không “vượt biên” như ở Ukraine. Họ đã nhanh chóng nhìn thấy tiềm năng trong kho vũ khí của NED để thay đổi chế độ và lợi dụng các dự án NGO tài trợ để xuất bản các tờ báo chống chính phủ, để đào tạo lớp thanh niên "nhiễm" virus dân chủ qua các chuyến đi chơi Mỹ tài trợ đến Kiev để tham khảo cuộc cách mạng cam, và để huy động đám đông khá lớn ở Bishkek xông vào dinh tổng thống Akayev và các thị trấn miền nam Osh và Jalalabad.

USAID "đầu tư ít nhất $2 triệu trước cuộc bầu cử" cho các nhà hoạt động địa phương để theo dõi hành vi sai trái của chính phủ nhưng đã không làm bất cứ điều gì để ngăn cấm các "quan sát viên độc lập" thực sự làm việc cho các ứng cử viên đối lập. Liên minh Dân chủ và xã hội dân sự (CDCS) và Xã hội Dân sự chống tham nhũng (CSAC), các đối tác NGO địa phương quan trọng của NED, làm việc song song với các bên chống Akayev mà không cần giả vờ vô tư.

Đại sứ quán Mỹ tại Bishkek, tiếp tục truyền thống hành vi can thiệp mờ ám vào cuộc khủng hoảng, làm việc chặt chẽ với NGO như Freedom House và Soros Foundation - cung cấp máy phát điện, in ấn báo chí và tiền bạc để giữ cho các cuộc biểu tình sôi lên cho đến khi Akayev chạy trốn. Tin tức về nơi nào người biểu tình cần tụ tập và những gì họ cần mang theo được phát qua TV và radio được tài trợ, đặc biệt là ở khu vực phía nam Osh.

Lãnh đạo đảng CDCS, Edil Baisolov, thừa nhận rằng cuộc nổi dậy sẽ là "hoàn toàn không thể" nếu thiếu những nỗ lực điều phối của Mỹ. Trong tiến trình của NED, NGO đến việc thực hiện toàn bộ cuộc cách mạng tulip, Philip Shishkin lưu ý: "Để tránh khiêu khích Nga và vi phạm tiêu chuẩn ngoại giao, Mỹ có thể không trực tiếp chống lưng các đảng chính trị đối lập. Nhưng nó bảo trợ một mạng lưới các tổ chức NGO có ảnh hưởng."

Điều quan trọng cần lưu ý là cấu trúc gia tộc của xã hội Kyrgyzstan, căng thẳng sắc tộc với người Uzbek, và phôi thai Hồi giáo ở thung lũng Ferghana xen vào giữa nền tảng để thay đổi kịch bản mạng được vẽ ra ở Washington. Nga đã quá học được bài học từ Ukraina và đã cài cắm được một số nhân vật đối lập chính, làm cho Mỹ không thể có được độc quyền phe đối lập như là trường hợp trong hai cuộc cách mạng màu trước (Ukraina và Gruzia).

Yếu tố bất ngờ, là các phương tiện truyền thông đã nhanh nhẹn phát sóng các tiến triển dân chủ không ngừng, các thủ đô phương Tây hợp lý hóa nó với tốc độ chớp nhoáng - tất cả đã trở thành như dự đoán vào thời điểm đoàn quân dân chủ tiến đến thủ đô Bishkek. Thái độ nước đôi của trật tự mới ở Kyrgyzstan – cuối cùng lại trái ngược rõ rệt với chính sách thân phương Tây như ở Georgia và Ukraine – chứa đựng rất nhiều sự thay đổi không giống như 2 trường hợp cách mạng màu trước.

Có thể nói cách mạng hoa tulip Mỹ bảo trợ và thực hiện, nhưng đã bị Nga đảo cờ ngoạn mục.



Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Dân chủ hóa, NGO và các cuộc cách mạng màu - P.4

Hoạt động cam ở Ukraine

Ukraina là hình ảnh thu nhỏ quen thuộc Mỹ của "công cụ hóa các chính sách dựa trên giá trị", do đó "gói ghém mục tiêu an ninh trong ngôn ngữ thúc đẩy dân chủ và sau đó làm nhầm lẫn thúc đẩy dân chủ với việc tìm kiếm các hậu quả chính trị cụ thể đề cao các mục tiêu an ninh."

Được xác định bởi chính quyền Clinton là một quốc gia ưu tiên cho dân chủ và một gói các chính sách đối ngoại hậu Xô Viết, tầm quan trọng của Ukraine trong việc NATO mở rộng về phía đông không quốc gia nào sánh được. Cố vấn đặc biệt của bà Clinton về Liên Xô cũ, Richard Morningstar, khẳng định năm 1997 liên quan đến hiệp ước Ukraine-NATO rằng "an ninh của Ukraine là một yếu tố quan trọng trong chính sách an ninh của Mỹ." Đối với Zbigniew Brzezinski, một diều hâu liberal ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của đảng Dân chủ:

"Ukraine, một không gian mới và quan trọng trên bàn cờ Á-Âu, là một trụ cột địa chính trị bởi vì sự tồn tại của nó như là một quốc gia độc lập giúp thay đổi Nga. Nếu không có Ukraine, Nga không còn là một đế chế Á-Âu... nếu Moscow lấy lại quyền kiểm soát Ukraina, với 52 triệu dân và nguồn lực lớn, cũng như tiến đến Biển Đen, Nga sẽ  tự động một lần nữa lấy lại đủ nguồn lực để trở thành đế quốc mạnh mẽ. "

Với sự gia nhập của Séc, Hungary và Ba Lan vào NATO năm 1999, Ukraine còn lại là biên giới cuối cùng, bộ đệm lớn nhất trên "biên giới" Nga-NATO. Cuộc cách mạng màu cam phải được xem xét trong bối cảnh một nước Nga phòng thủ đang cố gắng để giữ cho tầm ảnh hưởng của nó trong Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) và xâm lăng Euro-Atlantic ở phía đông đang được thúc đẩy bởi EU và NATO.

Việc sắp đặt sự đỡ đầu của nước ngoài cho hai ứng cử viên tổng thống vào đêm trước của cuộc cách mạng này làm sáng tỏ những mơ hồ của cuộc chiến lôi kéo ngầm. Viktor Yanukovych, ứng cử viên tổng thống kế nhiệm Leonid Kuchma, nhận được hỗ trợ bằng lời nói và tài chính mạnh mẽ từ điện Kremlin trước, trong và sau cuộc bầu cử gây tranh cãi năm 2004. Trong một cuộc họp riêng với TT Nga, Vladimir Putin, ngay trước cuộc bầu cử, ông Yanukovych hứa rằng ông “sẽ chấm dứt chính sách Ukraine tìm kiếm thành viên trong NATO." Viktor Yushchenko, đối thủ ủng hộ thị trường tự do được hưởng lợi từ chính sách ngoại giao Mỹ, tình báo và sự hỗ trợ của NGO cho cuộc cách mạng cam, đặt trứng của mình hoàn toàn trong giỏ EU và NATO.

Chính sách năng lượng cũng định hình toan tính thay đổi chế độ của Washington đối với Ukraine. Tháng 7 năm 2004, chính quyền Bush và Brussels đã rất sửng sốt khi chính phủ Kuchma đảo ngược một quyết định trước đó, mở rộng đường ống Odessa-Brody đến Gdansk Ba Lan. Việc mở rộng đã xảy ra, nó đã có thể vận chuyển một lượng dầu rất lớn từ biển Caspian vào thị trường EU, độc lập với Nga, và làm suy yếu sự phụ thuộc quá lớn của Ukraine vào Nga về nhu cầu năng lượng.

Vứt bỏ một dự án mà nó có thể củng cố quỹ đạo hướng tây của Kiev, Kuchma đã quyết định mở một tuyến đường ống không sử dụng để vận chuyển dầu từ Urals của Nga đến Odessa. Việc này àm rơi rụng lợi ích Mỹ không phải là không đáng kể, như W. Engdahl cho biết: "chính sách của Washington là nhằm mục đích kiểm soát trực tiếp dầu và khí chảy từ biển Caspian, bao gồm Turkmenistan, và để chống lại ảnh hưởng của Nga trong khu vực từ Georgia đến Ukraina đến Azerbaijan và Iran. Vấn đề mấu chốt mà Washington ngầm công nhận là sự cạn kiệt của các nguồn nhiên liệu lớn giá rẻ chất lượng cao trên thế giới đang lờ mờ hiện ra, vấn đề cạn kiệt dầu mỏ toàn cầu."

Đại sứ Mỹ tại Ukraina, Carlos Pascual, liên tục cầu khẩn Kuchma bãi bỏ quyết định đảo ngược, thuyết phục rằng kế hoạch của Ba Lan sẽ hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư và có lợi nhuận nhiều hơn cho Ukraine trong thời gian dài, đặc biệt là làm suy giảm độc quyền kiểm soát của Nga và đa dạng hóa nguồn năng lượng của Ukraine. Không phải ngẫu nhiên mà chính phủ Yushchenko, sau cuộc cách mạng cam, đã khôi phục hiện trạng đánh cược vào đường ống Odessa-Brody, thông báo "cuộc đàm phán tích cực với Chevron, công ty cũ của Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice, cho dự án này."

Các hoạt động cài cắm Yushchenko ở Ukraine có một số cấu thành. Quan trọng như mua chuộc giới quyền lực quân đội Ukraina, Bộ Nội vụ, các cơ quan an ninh và các quan chức tình báo cao cấp đã làm việc để chống lại mệnh lệnh đàn áp của Kuchma và chuyển các thông tin quan trọng về trại của Yushchenko.

Mặc dù các bảo vệ này tuyên bố đã không tuân lệnh các chỉ huy là bởi lòng khoan dung, có một thái độ nghiêng về thân Mỹ trong nhiều cơ quan nhà nước quan trọng. Qua kênh thông tin liên lạc của họ với phụ tá của Yushchenko, là Yevyen Marchuk, một kẻ hâm mộ NATO và là cựu bộ trưởng quốc phòng đã thảo luận về cuộc bầu cử sắp tới với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Donald Rumsfeld, tháng 8 năm 2004, cho thấy một kế hoạch đảo chính. Vợ của Yushchenko, Kateryna Chumachenko, là một cựu quan chức trong chính quyền Reagan và George Bush, là kẻ di cư Ukraina có thế lực, bị cho là đã đóng một vai quan trọng làm cửa hậu.

Không có gì trong số các mưu đồ kể trên là quan trọng mà không có kết quả bầu cử bị tranh cãi, tích lũy quyền lực quần chúng trên đường phố và các kỹ thuật dân chủ qua sự chống đối dân sự. Ở đây là NED và họ hàng NGO đóng vai trò cần thiết nhất.

Đã thâm nhập vào Ukraina từ năm 1990 theo lệnh của chính quyền George Bush với sự đồng ý của kẻ thân Mỹ Leonid Kravchuk, 1 lãnh đạo sáng giá của nền cộng hòa, các NGO này có sức mạnh tài chính và lập ra các NGO địa phương từ con số 0, chúng kiểm soát và chỉ đạo chương trình nghị sự của họ.

Tổ chức thanh niên tân tự do Pora, ví dụ, là một nhánh của "Liên minh Tự do lựa chọn" đã được lập ra năm 1999 và bảo trợ bởi Đại sứ quán Mỹ, WB, NED và Soros Foundation. Vào đêm trước của cuộc cách mạng cam, NED và NGO thuê cơ quan thăm dò dư luận Mỹ và các chuyên gia tư vấn chuyên nghiệp để khai thác dữ liệu phân tích bầu cử và đoàn kết phe đối lập dưới liên minh bầu cử TT Yushchenko, tháng trước cuộc bỏ phiếu; đã huấn luyên hàng ngàn nhân viên giám sát bầu cử địa phương và quốc tế cho đảng phái Yushchenko, tổ chức thăm dò kết quả bầu cử phối hợp với các đại sứ quán phương Tây để tiên đoán rằng chiến thắng thuộc về Yushchenko, cũng như nhập khẩu các "tư vấn" đã có kinh nghiệm trong việc lật đổ Milosevic của Serbia và cách mạng hoa hồng Gruzia.

Các quần chúng vận động bầu cử tại Kiev đã được lựa chọn cẩn thận từ thành lũy phía tây của Yushchenko và không phản ánh được tình cảm trên toàn quốc. "Một vài chục nghìn ở trung tâm Kiev đã được tuyên bố là 'quần chúng', bất chấp thực tế là nhiều kẻ biểu tình ấp ủ quan điểm bạo lực và phản dân chủ", John Laughland viết. Các viên giám sát bầu cử NGO hợp sức với phương tiện truyền thông phương Tây, cố tình phóng đại gian lận bầu cử liên quan đến phía đảng Yanukovych, bỏ qua vi phạm nghiêm trọng của phe Yushchenko.

Chi tiêu của chính phủ Mỹ vào cuộc cách mạng màu cam đã được đưa ra khoảng $14 triệu, trong khi ngân sách xúc tiến xã hội dân sự nói chung do Washington cung cấp cho Ukraine (2003-2004) là $57,8-$65 triệu. Các quỹ Soros và Freedom House bơm vào một dòng vốn ổn định qua các NGO và các tổ chức địa phương cho các "dự án liên quan đến bầu cử."

Đám đông quần chúng của Yushchenko ở quảng trường Độc lập Kiev là một hoạt động tỉ mỉ được lập "kế hoạch cẩn thận, bí mật bởi giới thân cận của Yuschenko trong một khoảng thời gian vài năm" các viên giám sát được phân phối hàng ngàn máy ảnh, các đội được hỗ trợ bác sĩ và tâm lý học, giao thông vận chuyển, máy sưởi, túi ngủ, bình gas nhỏ, nhà vệ sinh, nhà bếp, lều trại, TV và radio, tất cả đều cần "một khoản lớn tiền mặt, trong trường hợp này, phần lớn là của người Mỹ." (Daniel Wolf)

Các đầu sỏ chính trị địa phương và các doanh nhân Ukraina lưu vong ở Mỹ cũng đóng góp khá lớn cho neo-liberal Yuschchenko. Các mối quan hệ trong bóng tối và ràng buộc nhau giữa chính phủ Mỹ và NGO dân chủ ít bị nghi ngờ rằng sau này lại là nhà cung cấp một số tiền lớn ở Ukraine và sẽ không xuất hiện trong các cuộc kiểm toán, các báo cáo hàng năm. Nhận biết của công chúng về chi tiêu bị giảm bớt na ná con số thương vong chính thức được đưa ra bởi các chính phủ trong cuộc chiến chống khủng bố.

Theo nghị sĩ Ron Paul, Mỹ đã phân bổ $60 triệu để tài trợ cho cuộc cách mạng cam "qua một loạt các NGO được chuẩn bị trước cả Mỹ và Ukraina – để bảo trợ cho Yushchenko". Con số này ngẫu nhiên chỉ là "đỉnh của tảng băng". Có tuyên bố rằng "Nga đã giúp Yanukovych nhiều tiền hơn so với Mỹ (đã cung cấp cho Yushchenko)" phần còn của câu chuyện huyền thoại mà chính phủ Mỹ đã tài trợ thông qua các họ hàng NED "là công khai và minh bạch."

Vai trò của họ hàng NED lần đầu tiên theo sau chính quyền Bush, dẫn đầu và xức nước thánh vào phe Yushchenko như là biểu hiện vững chắc của "xã hội dân sự" (với chi phí không tân tự do, chống độc tài) và sau đó liên tục được củng cố bằng quỹ và chuyên môn lật đổ chế độ hoàn toàn làm lu mờ ranh giới giữa thúc đẩy dân chủ công bằng xã hội và can thiệp váo tiến trình chính trị của Ukraine.

Nó vụng về với kích thước cơ bản của Robert Dahl về dân chủ - tranh luận, tức là sân chơi cạnh tranh chính trị và sức mạnh tương đối của các đối thủ. Nhiều thứ được thực hiện bởi NGO nhân danh dân chủ ở Ukraine là hoàn toàn thiên vị, bao gồm cả dạy bảo cử tri, trong khi phải thông tin trung lập để công dân thực hiện lựa chọn tự do chứ không phải là chiến dịch cho một ứng cử viên đặc biệt: "Yushchenko đã nhận được cái gật đầu của phương Tây, và lũ tiền đổ ngập vào các nhóm ủng hộ ông ta, từ tổ chức thanh niên Pora, cho đến các trang web đối lập khác nhau." (Jonathan Steele)

Các tuyến đường quanh co được tiền phương Tây chiếm lấy có thể được minh họa bằng một ví dụ. Sáng kiến hợp tác Ba Lan-Mỹ-Ukraine (Pauci), là 1 bảo trợ đáng chú ý của USAID và Freedom House, các NGO được cấp tiền hoạt động trong các cuộc cách mạng cam như Trung tâm nghiên cứu chính sách Quốc tế (International Centre for Policy Studies), trong đó có Yushchenko trong ban giám sát. Về bản chất, các NGO Mỹ đã làm thui chột không gian chính trị Ukraina bởi hàng đàn hăm hở sống chết vì lợi ích của ứng cử viên tân tự do mới trước cuộc bầu cử 2004, và can dự vào hoạt động thay đổi chế độ thay đổi dưới sự điều phối của Washington.


Dân chủ hóa, NGO và các cuộc cách mạng màu - P.3

NGO dân chủ hóa

Bước ngoặt đưa các NGO lên hàng đầu trong việc thúc đẩy dân chủ-toàn cầu hóa là quyết định của chính quyền Reagan thành lập “Quỹ bảo trợ dân chủ Quốc gia” (NED - National Endowment for Democracy) vào năm 1983 để đảo ngược ảnh hưởng của Liên Xô. Với tuyên bố để "tăng cường thể chế dân chủ trên toàn thế giới thông qua những nỗ lực phi chính phủ", NED được xây dựng như một nền tảng bán chính phủ, được tài trợ bởi chính phủ Mỹ qua các NGO khác như Viện Dân chủ Quốc gia về các vấn đề quốc tế (NDI), Viện Cộng hòa Quốc tế (IRI), Quỹ Quốc tế về hệ thống bầu cử (IFES), Viện nghiên cứu và trao đổi Hội đồng quản trị Quốc tế (IREX), và Freedom House.

Các NGO này lần lượt "nhắm mục tiêu" vào các nước độc tài qua một loạt các chương trình hoạt động. Chủ tịch đầu tiên của NED, Allen Weinstein, thừa nhận công khai rằng "rất nhiều những gì chúng ta làm ngày nay đã được thực hiện bí mật 25 năm trước đây bởi CIA." Tổ chức là một cỗ máy tốt trước vụ bê bối Điều tra của Quốc hội Mỹ vào “khia cạnh mềm” hoạt động của CIA gây mất ổn định và lật đổ các chế độ không thân thiện đã làm xấu mặt chính phủ Mỹ vào cuối thập kỷ 1970.

William Blum viết: "NGO giúp duy trì một độ tin cậy nhất định ở nước ngoài, mà cơ quan chính phủ Mỹ có thể không làm được." 97% kinh phí của NED đến từ Bộ Ngoại giao Mỹ (thông qua USAID mà trước năm 1999 là Usia), phần còn lại được phân bổ bởi các nhà tài trợ cánh hữu Quỹ Bradley, Whitehead và Olin. Từ quan niệm của nó và mặc dù có cấu trúc của cả hai đảng, "giới tân bảo thủ đã tổ chức kiểm soát chặt chẽ chương trình nghị sự của NED và cơ cấu tổ chức của nó."

Một nhân vật cấp cao trong chính quyền George W Bush, kẻ ký kết dự án “Thế kỷ Mỹ mới” (PNAC - Project for a New American Century), mang chính sách can thiệp nước ngoài hung hãn của Mỹ, đã ra nhiệm vụ cho NED. Mặc dù tuyên bố NED "độc lập" và "phi chính phủ", Bộ Ngoại giao Mỹ và các cơ quan điều hành khác thường xuyên bổ nhiệm nhân viên vào các chương trình của NED. Một trong những "dự án dân chủ" (tên mã cho NED trong vụ bê bối Iran-Contra) tố cáo điều đó: "Các cơ quan "tư nhân" thực sự chỉ là bình phong cho các tổ chức mà họ phục vụ, tổ chức có thể chuẩn bị một báo cáo hoặc một dự án nghiên cứu, nó sau đó đưa nó lại cho công ty tư nhân để đính kèm đầu đề của nó, như thể nó thực sự là một hoạt động hoặc khởi xướng tư nhân."

Một cuộc khảo sát các NGO đối tác của NED cho thấy một mô hình tương tự trong những ưu tiên công khai được các tổ chức tư nhân thúc đẩy. Freedom House, một trung tâm tân bảo thủ chống lưng các cuộc cách mạng màu, có một lịch sử được đứng đầu và điều hành bởi các cựu quan chức CIA cấp cao.

NDI bị chi phối bởi "diều hâu tự do" hay cánh hữu đảng Dân chủ, những kẻ tìm thấy lối đi của mình qua kẽ hở chính sách đối ngoại chính khi đảng nắm quyền. IRI bao gồm một đàn chính trị gia cực hữu đảng Cộng hòa và các đại diện lớn tài chính, dầu mỏ, và các tập đoàn quốc phòng. IFES có đầu cánh thuộc về hàng ngũ bảo thủ đảng Cộng hòa, CIA hay tình báo quân đội. IREX là trường đào tạo cho những kẻ đóng vai chính trong các cuộc cách mạng màu, là nơi cư ngụ của các chuyên gia chiến tranh chính trị, ngoại giao quần chúng và tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông, cơ quan đối ngoại và quân đội Mỹ.

Sẽ là thú vị để chú ý rằng, các NGO nhân đạo và phát triển lại thường có mục tiêu thúc đẩy chính sách đối ngoại Mỹ, các NGO dân chủ và nhân quyền khoe khoang  mình ưu thế hơn các hoạt động tình báo và cơ quan chính phủ Mỹ. Có được điều đó là thực tế dân chủ hóa như bãi mìn chính trị nhạy cảm trực tiếp nhằm vào quan hệ quốc tế. Nó là quá quan trọng để chủ đề chính sách đối ngoại của chính phủ Mỹ giao lại dây cương cho tổ chức tự nguyện.

Vũ trang bởi cả một biển ngôn từ dân chủ xa hoa, NGO như William DeMars nói: "Chính phủ Mỹ có năng lực lớn hơn bất cứ diễn viên đơn lẻ nào khác trên thế giới để theo dõi chúng, hướng chúng, ngăn chặn chúng, hoặc lái chúng vào một hướng đã lựa chọn."

USAID thừa nhận rằng dân chủ có thể được quảng bá trên khắp thế giới mà không cần phải "là chính trị", điều đó là hư cấu hoàn toàn, bởi vì nhiệm vụ của NED và họ hàng của nó là làm thay đổi cán cân lực lượng chính trị ở quốc gia mục tiêu với cái cớ "hỗ trợ xã hội dân sự."

Bác bỏ sự chính trị hóa trắng trợn của các NGO dân chủ, Elizabeth Cohn khuyến cáo: "Sự tham vấn thân cận giữa chính phủ Mỹ và các nhóm NGO sẽ phải chấm dứt. NGO phải tự mình đặt ra mục tiêu riêng của họ và không được làm đầy tớ cho lợi ích quốc gia của Mỹ, như NED là theo sự uỷ quyền của Quốc hội.".

Từ bỏ như vậy có vẻ là dại dột đối với chủ nghĩa hiện thực trong chính phủ Mỹ, không cần phải nói, vì nó là tương tự như giết chết con ngỗng đẻ trứng vàng. Những kẻ ủng hộ cho nó, là họ hàng NED, đã có nhiều thành công để chứng tỏ. “Can thiệp để bảo vệ sự toàn vẹn cuộc bầu cử ở Philippines, Pakistan, Đài Loan, Chile, Nicaragua, Namibia, Đông Âu và các nơi khác".

Đánh giá trung lập sẽ liệt điều đó vào loại thao túng bầu cử. Bỏ qua điều trên và tính đếm đến các cuộc lật đổ thắng lợi các chính phủ dân bầu ở Bulgaria (1990), Albania (1992) và Haiti (cuối 1990), bất ổn ở Panama, Cuba và Venezuela. Phần tiếp theo sẽ chứng tỏ rằng những lông lá mới nhất của NED là những cuộc cách mạng màu.



Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Dân chủ hóa, NGO và các cuộc cách mạng màu - P.2

NGO như phương tiện thâm nhập chiến lược

Chủ nghĩa hiện thực khẳng định rằng các diễn viên xuyên quốc gia có thể mạnh trên cả trọng lượng của chúng và có tác động không cân xứng vào các vấn đề thế giới chỉ khi chúng vận động hành lang và thay đổi các ưu tiên, thực tiễn và chính sách của các cường quốc gia. Mạng lưới nhân quyền Helsinki ở châu Âu theo trò chơi gây ảnh hưởng rất lớn bởi thắng lợi hơn chính phủ Mỹ ở góc độ đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản.

Các nhà lý thuyết xã hội định hướng đã sai khi không thừa nhận rằng các siêu cường có chủ tâm và bộ máy của riêng mình, và chỉ gây "áp lực" xuyên quốc gia để phục vụ các mục đích địa chiến lược lớn hơn. Hiếm khi Mỹ thúc đẩy nhân quyền và dân chủ trong một khu vực khi chúng không phù hợp với các mục tiêu chính sách đối ngoại lớn hơn của Mỹ.

Thomas Carothers, lãnh đạo một cơ quan hàng đầu về thúc đẩy dân chủ của Mỹ, đã chê bai công cụ tư tưởng dân chủ hóa của chính quyền Mỹ gần đây: "Hoa Kỳ có quan hệ gần gũi, thậm chí thân mật với nhiều chế độ phi dân chủ vì lợi ích an ninh và kinh tế Mỹ... và cuộc đấu tranh rất không hoàn hảo để cân xứng lý tưởng với các nhiệm vụ cấp bách thực tế phải đối mặt. "

Mặt trái của hiện thực này là một thực tế khi các chế độ phi dân chủ chứng tỏ là cái gai trong mắt, Mỹ sẽ thấy đáng để nhổ bỏ bằng một loạt các phương pháp khác nhau. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, chọn lựa thúc đẩy dân chủ đã được phản ánh tốt nhất bởi cách phân biệt của Jeane Kirkpatrick giữa "chuyên chế" và chế độ "độc tài", chế độ độc tài có thể được ủng hộ trong lược đồ lợi ích lớn hơn của Mỹ.

Khi đi sâu vào nghiên cứu trường hợp các cuộc cách mạng màu, cùng một "bạo chúa tốt-bạo chúa xấu" loang lổ thái độ siêu cường về dân chủ hóa trong thế giới hậu cộng sản sẽ lại nổi lên như thế trong bối cảnh mới của "cuộc chiến chống khủng bố".

Geoffrey Pridham chia tác động địa chiến lược trong việc thay đổi chế độ vào hai chiều không gian và thời gian. Địa Trung Hải đã biến thành khu vực cạnh tranh dữ dội của siêu cường trong giữa những năm 1970 do gia tăng sự hiện diện hải quân Xô Viết và sự bất ổn định ở Trung Đông. Quá trình chuyển đổi chế độ ở điểm nóng, do đó, làm trầm trọng thêm lợi ích của Mỹ và phương Tây như một hậu quả.

Như một hệ quả tất yếu, ở những thời điểm nhạy cảm của lịch sử thế giới, khuynh hướng Mỹ can thiệp vào chế độ chính trị các nước đã tăng lên. Bất ổn kinh tế đầu Chiến tranh lạnh ở Ý và Hy Lạp trong những năm 1970 là một cơ hội mà hậu quả làm cho Washington thấy cần thiết phải đóng vai trò can thiệp tích cực. Ba mươi năm trôi qua, không gian Ukraine và Kyrgyzstan mang tầm quan trọng đã đến lúc chín muồi cho các cuộc cách mạng màu được sắp đặt từ bên ngoài.

Laurence Whitehead đã làm sâu sắc thêm sự hiểu biết về dân chủ như một chiến lược địa chính trị đó là phân phối lại quyền lực toàn cầu và kiểm soát với phép ẩn dụ về vắc xin, không phải lây lan hay virus. Quân đội Mỹ và các kiểu can thiệp gây bất ổn ở Trung Mỹ có nghĩa là để tiêm chủng chống lây nhiễm bởi chủ nghĩa Castro-Cuba và cuộc điều trị này đã được dán nhãn "dân chủ". "Hai phần ba các nền dân chủ hiện tại vào thời 1990 có nguồn gốc từ các hành động lừa bịp có tính toán hoặc can thiệp từ bên ngoài... Đó không phải là sự liên tưởng mà là chính sách của một thế lực thứ ba để biện giải cho sự phát tán dân chủ từ nước này sang nước khác." Các cuộc cách mạng màu là không thể tách rời với truyền thống sức mạnh chính trị lấn át các quốc gia trong quan hệ quốc tế.

Quan điểm hiện thực chủ nghĩa về các diễn viên xuyên quốc gia là công cụ của các quốc gia đầy sức mạnh bắt đầu từ những tranh luận về các tập đoàn đa quốc gia (MNC - multinational corporations) và sự lúng túng của họ với quyền bá chủ của Mỹ. Robert Gilpin là người đầu tiên giải thích sự gia tăng của MNC như một chức năng để củng cố quyền bá chủ, nghĩa là sự cầm đầu của diễn viên thuộc quốc gia chính trị hùng mạnh là điều cần thiết cho việc tạo ra và duy trì nền kinh tế thế giới tự do trong đó MNC phát triển mạnh.

Robert Keohane và Joseph Nye cũng cảnh báo năm 1970 rằng "các mối quan hệ xuyên quốc gia có thể phân phối lại quyền kiểm soát từ quốc gia sang các quốc gia khác và lợi ích của các chính phủ ở trung tâm mạng lưới xuyên quốc gia này cho đến bất lợi của những quốc gia ở ngoại vi." NGO đã không bùng nổ trong sự chú ý toàn cầu vào lúc có các đánh giá ban đầu về chủ nghĩa xuyên quốc gia. Tuy nhiên, việc sử dụng các NGO làm công cụ chính sách đối ngoại đã không được biết đến ngay từ đầu của cuộc chiến tranh lạnh.

NGO nhân đạo như Ủy ban cứu trợ quốc tế (thành lập năm 1933 để hỗ trợ các đối thủ chống Đức Quốc xã) và NGO dân chủ hóa như Freedom House (thành lập năm 1941; một thành phần quan trọng của Kế hoạch Marshall để ngăn chặn cộng sản tiếp quản Tây Âu) là 2 trường hợp đại diện cho lợi ích của chính phủ Mỹ trong khi vẫn duy trì tình trạng pháp lý của NGO.

Xúi bẩy đào ngũ và tị nạn từ phía sau "bức màn sắt", ngoại giao quần chúng, tuyên truyền và cấp kinh phí cho các ứng cử viên bầu cử ở nước ngoài bởi tổ các chức từ thiện và các NGO đã tồn tại từ rất lâu trước khi phân khúc tình nguyện đạt được địa vị công khai quan trọng trong lịch sử chính sách đối ngoại Mỹ. Gần đây hơn, các NGO nhân đạo (không phải nhân quyền) phụ thuộc nhiều vào tài chính Mỹ đã bị phát hiện là cố ý hay vô tình mở rộng lợi ích của chính phủ Mỹ. Như Julie Mertus viết: "Đó không phải là các tổ chức NGO dẫn dắt chương trình nghị sự của chính phủ, đó là chính phủ Mỹ dẫn dắt chương trình nghị sự NGO."

Phát triển giáo lý trong chính sách đối ngoại theo kịp tiềm năng phát triển của NGO như tài sản có giá trị để thúc đẩy lợi ích quốc gia Mỹ. Lý thuyết "Thâm nhập không chính thức" của Andrew Scott (1965) gắn viện trợ nước ngoài của Mỹ, hỗ trợ kỹ thuật và các tổ chức quốc tế với nhau như một bộ công cụ, thứ có thể được sử dụng để tăng độ rỗng và sự thẩm thấu vào các quốc gia đối thủ.

Tính thẩm thấu qua biên giới quốc gia vừa là một điều kiện tiên quyết để các tổ chức xuyên quốc gia xuất hiện như MNC, NGO và các tổ chức quốc tế, và cũng là kết quả cuối cùng của việc tăng cường chủ nghĩa xuyên quốc gia với Mỹ như Trung tâm đế chế (Metropole). Richard Cottam đưa ra giả thuyết rằng sự phân cách (Zeitgeist) của nền chính trị thế giới đã thay đổi cơ bản về nguồn gốc từ "chiến tranh bắn giết" sang chiến tranh chính trị, kinh tế và tâm lý. Các đấu trường mà tại đó các trận đấu quốc tế quan trọng ngày càng diễn nhiều là chính sách đối nội của các quốc gia bị nhắm đến, yếu ớt, dễ bị tổn thương trước ảnh hưởng và can thiệp nước ngoài.

Cottam đã thất vọng với bản chất không thích đáng này của chính sách đối ngoại Mỹ và bỏ qua những kế hoạch chiến lược dài hạn dựa trên "sự can thiệp chiến thuật". Bản thiết kế đương thời cho đồng diễn viên xuyên quốc gia như một cánh tích cực của chính sách đối ngoại đã được sắp đặt bởi tư tưởng “quyền lực mềm” của liberal Joseph Nye, nó kêu gọi khai thác nguồn dự trữ tài nguyên vô hình to lớn của Mỹ như văn hóa, tư tưởng và tổ chức để duy trì sự thống trị thế giới của Mỹ.

"Quyền lực mềm" ở cuối chiến tranh lạnh là ít tốn kém và hiệu quả hơn đối với Nye vì sự tinh tế và chất quyến rũ của nó. Các giá của các hành động quân sự trực tiếp trong thời hiện đại đảm bảo rằng "các công cụ khác như thông tin liên lạc, kỹ năng tổ chức và thể chế, vận dụng sự phụ thuộc lẫn nhau đã trở thành công cụ quan trọng của quyền lực." Để quản trị những thách thức "phụ thuộc lẫn nhau xuyên quốc gia", Nye kêu gọi Mỹ đầu tư nhiều hơn vào các tổ chức quốc tế và các thể chế trong các vấn đề, lĩnh vực mà có thể làm cho sự lãnh đạo Mỹ trong quyền lực toàn cầu trở thành vĩnh viễn.


Nhấn mạnh vai trò của các diên viên tư nhân hoạt động quốc tế xuyên biên giới là một phạm trù quan trọng phải được quản trị bởi nhà nước bá quyền là trung tâm của cuộc thảo luận về NGO dân chủ hóa như những con tốt. Trong số những kẻ tham gia có cả các nhà ngoại giao Mỹ, ích lợi của quyền lực mềm trong việc thúc đẩy hơn nữa mục đích chiến lược đã được hun nóng sau khi kết thúc chiến tranh lạnh. Warren Christopher, thư ký đứng đầu của TT Clinton, đề xuất một cách tiếp cận chiến lược dựa trên "chủ nghĩa hiện thực mới" để thúc đẩy dân chủ: "Bằng cách thu nạp các tổ chức quốc tế và địa phương vào làm việc, Mỹ có thể tận dụng nguồn lực hạn chế của mình và bác bỏ diện mạo cố gắng để thống trị kẻ khác."

Dân chủ hóa, NGO và các cuộc cách mạng màu - P.1

"... Quyền lực làm công việc của nó một cách lén lút, và quyền lực hùng mạnh sau đó có thể phủ nhận đã sử dụng sức mạnh của nó với tất cả." Salman Rushdie, Shalimar the Clown (2005)

Samuel Huntington tóm tắt sự pha trộn những nguyên nhân chính gây ra "làn sóng thứ ba" dân chủ hóa bắt đầu vào năm 1974, kể ra một yếu tố mới nhưng không có nghĩa là chưa từng có trong 2 làn sóng trước: "Những thay đổi trong chính sách của các diễn viên ngoại... một thay đổi lớn trong chính sách của Mỹ đối với việc thúc đẩy nhân quyền và dân chủ ở các nước khác..." Các tổ chức phi chính phủ quốc tế của Mỹ (American international non-governmental organization, sau đây gọi tắt là NGO) là cơ chế nổi bật mà qua đó mối liên hệ nhân quả giữa lợi ích của chính sách đối ngoại siêu cường và thay đổi chế độ đã làm thay đổi rất nhiều các chế độ độc tài trong "làn sóng thứ ba" kéo dài hơn 2 chục năm qua.

Bài viết này cố gắng mở rộng phân tích vào NGO, một công cụ hữu hiệu và dân chủ hóa đối với cơn bão địa chính trị lan truyền là các cuộc cách mạng "màu" hay "hoa", quét khắp thế giới hậu cộng sản từ năm 1999. Đặt ra nó để đánh giá sức mạnh tác động của các diễn viên xuyên quốc gia trong các sự kiện chính trị quốc tế có hậu quả rất lớn gần đây, và khám phá mối quan hệ giữa ký sinh giữa NGO và một nhà nước bá quyền.

Mục đích của NGO là để đưa nhà nước bá quyền này trở lại vị thế thống trị bởi có những biểu hiện khiếm khuyết của các hoạt động xuyên quốc gia. Lập luận chính là ở chỗ: nguyên nhân chính và trực tiếp của các cuộc cách mạng màu là lợi ích chính sách đối ngoại Mỹ (chiến lược bành trướng, an ninh năng lượng và cuộc chiến chống khủng bố) cũng được phụng sự bởi các NGO. Nếu không có sự can thiệp của các NGO Mỹ bảo trợ, cảnh quan chính trị ở các nước như Georgia, Ukraine và Kyrgyzstan đã không bị tô vẽ trong sắc màu mới.

Ba cuộc cách mạng màu - "cách mạng hoa hồng" ở Georgia (11-2003 đến 1-2004), "cách mạng cam" ở Ukraina (1-2005) và "cách mạng hoa tulip" ở Kyrgyzstan (4-2005) - mỗi cuộc đều theo một quỹ đạo gần như giống hệt nhau, tất cả đều được dẫn đầu bởi các NGO dân chủ hóa Mỹ, làm việc theo chỉ đạo của cơ quan chính sách đối ngoại Mỹ.

Nhưng sẽ có lập luận rằng các cơn co giật chính trị có thể thấy được ở Uzbekistan (5-2005) và Azerbaijan (11-2005) đã không phải là trải nghiệm "cách mạng màu" do sự thay đổi của các biến số độc lập, ưu tiên chính sách đối ngoại của Mỹ.


Bối cảnh dân chủ

Hầu hết các nghiên cứu về dân chủ hóa đều nhận ra bối cảnh quốc tế mà trong đó thay đổi chế độ xảy ra, nhưng các nghiên cứu như vậy không bao giờ đi đến chỗ đánh giá nguyên nhân bên ngoài đóng vai trò quan trọng nhất. Có sự đồng thuận là các yếu tố ngoại sinh "rất khó để áp dụng một cách bền vững trong dài hạn." Trong trường hợp của khối cựu cộng sản, một số học giả coi các tổ chức quốc tế, viện trợ kinh tế phương Tây và Giáo hội Công giáo là "chất xúc tác của dân chủ hóa", những người khác cho rằng tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế gây ra những thay đổi chính trị cơ bản dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản. 

Các diễn viên xuyên quốc gia, bao gồm các NGO trong trung tâm của mạng lưới vận động, được xem như là lợi dụng cấu trúc cơ hội - được đề xướng bởi "chủ nghĩa toàn cầu", đóng vai trò làm "vật trung gian hình thành quan điểm ảnh hưởng", và duy trì chỉ trích thường xuyên các "quốc gia mục tiêu" dễ bị tổn thương mà bị cho là có bản chất đàn áp. Chân dung của mạng lưới vận động là các tổ chức tự quản-không có chủ thể chịu trách nhiệm, khôn khéo lèo lái các quốc gia và tổ chức quốc tế để đạt được mục đích mang tính nguyên tắc của chúng, cho rằng dân chủ hóa "vừa là nguyên nhân góp phần vừa là hiệu ứng mở rộng vai trò cho xã hội dân sự xuyên quốc gia."

Về câu hỏi làm thế nào để các diễn viên xuyên quốc gia "thâm nhập" vào quốc gia mục tiêu, thứ lợi ích phôi thai để tìm kiếm các cuộc cách mạng màu, lý thuyết kiến tạo đàn hạc ở cách thức chui vào bên trong. Tuy nhiên, NGO thâm nhập vào Ukraine và Kyrgyzstan có lẽ không hẳn theo cách này.

Một cách để thâm nhập được trình bày bởi "mô hình boomerang", trong đó quan hệ quốc tế "khuếch đại nhu cầu của các nhóm trong nước, tạo ra không gian mở cho các vấn đề mới và sau đó dội lại những yêu cầu này vào đấu trường trong nước." Mặc dù chiến lược và chiến thuật gây áp lực của NGO thực hiện gần đúng với những gì đã xảy trước khi có các cuộc cách mạng màu ở Ukraine và Kyrgyzstan, nguồn gốc NGO can dự vào các nước này không đơn giản như lời mời từ xã hội dân sự bản địa đối với xã hội dân sự toàn cầu.

Các nước cựu cộng sản đặc trưng bởi xã hội dân sự bản địa yếu và các tổ chức trung gian bản địa còn phôi thai. Cũng không phải là sự năng động của NGO can thiệp vào các nước này đơn giản như mối bất bình trong nước được giải quyết bằng cách liên minh với các mạng lưới bên ngoài theo nguyên tắc "thúc đẩy bởi các giá trị chứ không phải bởi vật chất hoặc xã hội chuyên nghiệp." Đối với khuôn khổ lý thuyết phù hợp nhất cho câu chuyện của NGO cách mạng màu, chúng ta phải rời khỏi lý thuyết kiến tạo và chuyển sang ứng dụng xoay vòng của chủ nghĩa hiện thực trong nền chính trị thế giới.